Please login or register.

Login with username, password and session length

Author Topic: Những ngôi chùa Việt Nam!!  (Read 31539 times)

03 Tháng Chín, 2006, 04:45:08 PM
Reply #45
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 339
  • Điểm bài viết: 4
  • Nothing is impossible....Try the best....
Giữ Gìn và Bảo Vệ Di Tích Cổ 
Ở Chùa Đậu, Hà Tây


Con đường nhỏ hẹp, gập ghềnh đất đá đưa chúng tôi vào sâu trong làng Gia Phúc, xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín. Nằm biệt lập ở một góc làng, giữa mênh mông ruộng nước, cánh đồng bao bọc là Chùa Đậu, ngôi chùa nổi tiếng vì kiến trúc nơi đây mang những nét đặc trưng của nền nghệ thuật dân gian hưng thịnh từ thế kỷ 17 và hiện còn lưu giữ hai nhục thân bất hoại của hai vị thiền sư trụ trì. 
Trước khi bị thực dân Pháp đốt (năm 1947), chùa còn lưu giữ nhiều đồ vật quý do Vua Lê, Chúa Trịnh ban, còn cả ngôi chính điện thờ Pháp vũ mang đậm nét văn hóa bản địa. Giờ đây, Chùa Đậu đem lại cảm giác luyến tiếc cho mọi người trước khu cảnh nền chính điện đồ sộ với những chân cột đá lớn trơ trụi còn sót lại sau năm 1947, hai dãy hành lang đặt các bức tượng La hán, bia đá cổ, hương án thờ xuống cấp nghiêm trọng, những kèo cột, mái ngói mục nát, xập xệ. Hiện nay chùa đang tu sửa nhà thờ tổ và sắp tới sẽ tiếp tục tiến hành với một trong hai dãy hành lang. Với nguồn kinh phí có hạn do Nhà nước hỗ trợ, chùa chỉ có thể đủ để chống xuống cấp một số khu vực chính.

Năm ngoái, Chùa Đậu từng có thời gian gây xôn xao dư luận vì vụ kẻ gian hung dữ đột nhập trong một đêm mưa gió tối trời. Sau sự cố này, nhà chùa vẫn luôn có bốn thầy trò sư Thích Thanh Nhung túc trực cùng một bảo vệ xã hỗ trợ, dự định sẽ tăng thêm người. Mặc dù từ đó đến nay chưa xảy ra chuyện gì nhưng với địa thế hiện tại của chùa chưa phải là thật sự kiên cố, lại ở nơi vắng vẻ đồng không mông quạnh vẫn luôn gợi cho mọi người nỗi lo kẻ gian từ nơi khác đến.


CHÙA THIÊN TRÙ HƯƠNG SƠN



Hương Sơn là một khu vực rộng lớn thuộc xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây, ven bờ phải sông Đáy. Nhiều chùa ở Hương Sơn được xây dựng với quy mô lớn vào thời Hậu Lê, nổi tiếng nhất là chùa Thiên Trù. Đến đầu thế kỷ XX, đã có hơn một trăm ngôi chùa và động ở khu vực này. Chùa Thiên Trù hay chùa Ngoài nằm gần bến Trò trên dòng suối Yến, được ngài Trần Đạo Viên Quang chân nhân dựng vào năm 1686 và được trùng tu, phát triển thành ngôi đại già lam ở các thế kỷ kế tiếp. Bom đạn chiến tranh đã phá hỏng ngôi chùa vào các năm 1947, 1948 và 1950. Di tích xưa nay chỉ còn lại tháp Thiên Thủy, tháp Viên Công - một công trình nghệ thuật đất nung thế kỷ XVII và bia đá. Năm 1985, chùa đã xây gác chuông 8 mái ở sân Thiên Trù. Từ năm 1989, Thượng tọa Thích Viên Thành cùng Ban xây dựng chùa Hương đã thực hiện công việc quy hoạch và tôn tạo toàn vùng, xây dựng chùa Thiên Trù ngày nay trên nền móng chùa cũ. Hàng năm, hội chùa Hương kéo dài từ đầu tháng giêng đến giữa tháng ba (âm lịch), là một trong những lễ hội lớn ở nước ta, thu hút hàng vạn Phật tử, du khách trong nước, nước ngoài đến tham quan, chiêm bái. Thắng cảnh chùa Hương đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia và đã đệ trình Hội đồng Di sản, Văn hóa và Thiên nhiên thế giới xét công nhận Di sản văn hóa thế giới.

CHÙA HƯƠNG

Ngày trước có một người con gái, mùa Xuân theo cha mẹ đi trẩy hội chùa Hương đã phải lòng chàng trai tài hoa phong nhã... 

Tâm tình của cô gái ấy với những lời e ấp vụng dại đã được nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp ghi lại qua một thiên ký sự bằng thể thơ năm chữ nổi tiếng trên đất Việt hơn nửa thế kỷ qua. Ngày nay cảnh vật Hương Sơn có khác đi ít nhiều, nhưng hành trình đến chùa Hương vẫn là một cuộc hành trình trở về thiên nhiên và cội nguồn. Chúng ta hãy lần theo dấu chân cô gái ngày trước mà tìm đến với "Nam thiên đệ nhất động" (Ðộng đẹp nhất trời Nam). 

Chùa Hương nằm trên địa bàn xã Hương Sơn, huyện Mỹ Ðức, tỉnh Hà Tây, cách Hà Nội 60km. Thật ra chùa Hương không phải là một ngôi chùa mà là một hệ thống chùa chiền, đền thờ và hang động nằm trong khu vực có những ngọn núi đá vôi và rừng nhiệt đới, diện tích tất cả khoảng chừng 6km2. 

Theo truyền thuyết, vùng núi có hang động này được tìm thấy cách đây hơn hai nghìn năm và đã dược đặt tên Hương Sơn - lấy tên một ngọn núi ở phía Bắc Tuyết Sơn trong dãy Himalaya (Ấn Ðộ), nơi Ðức Phật đã ngồi tu khổ hạnh suốt 6 năm ròng rã. Ðời Lê Thánh Tông (1460- 1497) đã có am thờ Phật dựng trên mảnh đất Thiên Trù. Theo sách Hương Sơn Thiên Trù thiên phú  thì chùa Hương được xây dựng từ đời Lê Hy Tông niên hiệu Chính Hòa (1680-1705). Bia tại chùa Thiên Trù có ghi rằng việc xây dựng nền đất, bậc đá và tôn tạo Kim Dung bảo điện của chùa được thực hiện vào năm 1686; còn pho tượng chính trong chùa - tượng Bồ Tát Quan Âm - xưa kia vốn bằng đồng được đúc năm 1767. 

Hàng năm, hội chùa Hương mở từ ngày mồng sáu tháng Giêng đến rằm tháng Ba Âm lịch, trải dài trên ba tuyến chính: tuyến động Hương Tích, tuyến chùa Tuyết và tuyến chùa Long Vân. Trên thực tế, suốt trong tháng Giêng và tháng Hai cảnh chùa luôn luôn đông vui tấp nập, và khách thập phương chủ yếu vãn cảnh chùa theo tuyến động Hương Tích. 

Từ Hà Nội, đi xe vào thị xã Hà Ðông, lên thị trấn Vân Ðình, qua gần 20km nữa là tới Bến Ðục, nằm bên bờ sông Ðáy. Ðây là cửa ngõ vào khu danh lam thắng cảnh. Từ Bến Ðục, khách đi bộ gần 1km sẽ đến bến đò để lên thuyền xuôi theo một dòng suối có tên là Yến Vĩ (đuôi con chim én). 

Thuyền đi, Bến Ðục qua 
Mỗi lúc gặp người ra 
Thẹn thùng em không nói 
"Nam Mô A- Di- Ðà !"

Thuyền đưa du khách lướt bên những ngọn núi đá nên thơ như núi Voi, núi Rồng... cùng với nhịp cầu ở phía xa gợi lên khung cảnh non tiên nước Phật: 

Réo rắt suối đưa quanh 
Ven bờ, ngọn núi xanh 
Dịp cầu xa nho nhỏ 
Cảnh đẹp gần như tranh.

Ðến đền Trình, thuyền ghé vào để du khách"trình diện" với thần linh trước khi đặt chân lên cõi Phật. Ðền nằm dưới chân một quả núi được đặt tên là Quan Lớn, thờ một bộ tướng của vua Hùng. 

Rời đền Trình, du khách tiếp tục cuộc hành trình bằng đường thủy ngắm cảnh hai bên dòng suối: 

Sau núi Oản, Gà, Xôi 
Bao nhiêu là khỉ ngồi 
Tới núi con Voi phục 
Có đủ cả đầu đuôi.

Thuyền dừng ở Bến Trò cho du khách bước lên khu vực chùa Thiên Trù (Bếp Trời), tức là chùa Ngoài. Ngày xưa chùa được xây khuất trong bốn vách núi, có đến vài chục gian, nhưng đã bị tàn phá trong chiến tranh. Nam Thiên môn được xây dựng dưới triều Vua Gia long (năm 1809) cũng bị phá hủy. Một kiến trúc cổ còn lại là Viên Công bảo tháp được xây dựng từ thế kỷ XVII, nơi đặt xá lợi Thiền sư Viên Quang, người có công trùng tu chùa Hương sau nhiều năm hoang phế. Nhìn từ xa, tháp như cây bút hồng ngọn vút cao lên trời. - đây còn có Thiên Thủy tháp là một mỏm đá mọc ngược thành một cây tháp thiên tạo, nước mưa trên núi theo tháp chảy xuống. Năm 1986, chùa Thiên Trù đã phục dựng lại gác chuông và đến năm 1989 thì xây xong nhà Tam bảo hai tầng theo kiểu chữ "Ðinh". Ðầu năm 1994, chùa đã xây dựng lại Nam thiên môn (cửa trời Nam) theo nguyên mẫu xưa. 

Từ khu vực chùa Ngoài, du khách lần theo con đường dốc trên các sườn núi đá để ghé thăm chùa Tiên Sơn xây trong động giữa lòng một quả núi, có bốn pho tượng quý bằng hồng thạch. Tiếp đó là chùa giải Oan, nơi có giếng nước trong vắt gọi là "Thiên nhiên thanh trì" hay còn gọi là giếng Long Tuyền. Trước chùa có suối chín nguồn gọi là suối Giải Oan. Gần chùa là động Tuyết Kinh và am Phật Tích. Cách đó không bao xa, du khách bước chân đến núi Chấn Song để thăm đền cửa Võng. 

Ðích xa nhất mà du khách vãn cảnh chùa muốn đạt đến là Ðộng Hương Tích nằm sâu ở phía trong. Du khách bước qua một cổng lớn ở phía trên, rồi theo những bậc đá rộng đi xuống động. Cửa động trông như hàm rồng, phía trong có năm chữ Hán "Nam thiên đệ nhất động" tạc vào đá, tương truyền là bút tích của Tĩnh Ðô Vương Trịnh Sâm khắc vào năm 1770. Hai hàng cây cổ thụ tầng cao bóng cả chen cành kết lá phủ lên cửa động. Ánh nắng lọc qua lá cây tạo nên một thứ ánh sáng mờ ảo trải trên các bậc đá, cộng với khói hương từ lòng động bay lên tạo thành một không gian huyền diệu như lời ca trong bài hát " Chùa Hương" của nhạc sĩ Hoàng Quý: "Chùa Hương khói trầm ngút bay những khi nắng tàn, phút giây chìm đắm trong mơ màng". 

Vào trong động du khách chiêm ngưỡng tượng Bà Chúa Ba (Bồ Tát Quan Thế Âm) cùng nhiều tượng phật Bồ Tát... Trên vách động thạch nhũ rũ xuống muôn hình vui vẻ, màu sắc biến ảo: hình Ðụn Gạo, Ðụn Tiền, Cây Vàng, Cây Bạc, Buồng Tằm, Nong kén, Hòn Cậu, Hòn Cô... Trên trần động thạch nhũ còn nhô ra thành hình chín đầu rồng sinh động gọi là Cửu Long. Ngắm nhìn những dáng hình kỳ tú đó của thiên nhiên , cô gái trong thơ Nguyễn Nhược Pháp đã thốt lên: 

Ôi! Chùa Trong đây rồi! 
Ðộng thẳm bóng xanh ngời 
Gấm thêu trần thạch nhũ 
Ngọc nhuốm hương trầm rơi.

Còn nhà thơ Chu Mạnh Trinh ở thế kỷ trước thì cảm tác thành bài Thú Hương Sơn nổi tiếng: Bầu trời cảnh bụt 

Thú Hương Sơn ao ước bấy lâu nay 
Kìa non non, nước nước, mây mây 
"Ðệ nhất động" hỏi rằng đây có phải! 
Nhác trong lên ai khéo họa hình 
Ðá ngũ sắc long lanh như gấm dệt 
Thăm thẳm một hang lồng bóng nguyệt 
Gập ghềnh mấy lối uốn thang mây...

Như trên đã nói, ngoài động Hương Tích, du khách còn có thể rẽ qua rừng mơ thăm chùa Hinh Bồng, theo suối Tuyết vào đền Mẫu Hạ rồi đến núi Thuyền Rồng, núi con Phụng, hòn đầu sư Tử, vách đá Kỳ Sơn Tú Thủy và sau đó đến bến Tuyết Sơn vào chùa Bảo Ðài. Leo núi Bạch Tuyết Môn, vào điện Cô, du khách tới thăm chùa Tuyết Sơn còn có tên là Ngọc Long Ðộng. Nơi đây, vào năm 1770, Trịnh Sâm có làm bài thơ Ðăng Tuyết Sơn hữu hứng. 

Ở hướng khác, một nhánh của dòng suối Yến đưa du khách qua núi Ông Sư Bà Vãi, lên thuyền vào thăm chùa Long Vân, leo núi thăm chùa Cây Khế và hang Sũng Sàm, một di chỉ khảo cổ ghi dấu tích người xưa. 

Giã từ cảnh đẹp Hương Sơn, du khách có thể mang về làm kỷ vật một cây gậy trúc đã chống trên đường hành hương, và mảnh gốc mơ già để pha nước uống, những quả mơ dày cùi nhỏ hạt và mấy mớ rau sắn nấu canh hương vị thơm ngon. Nhưng cái quý nhất mà người đi chùa Hương có được là một tâm hồn đã tẩy sạch bụi trần, lâng lâng một niềm vui thoát tục với những ấn tượng không phai mờ về một chốn Thiên Thai ngay trên trần gian như ca dao đã miêu tả: 

Một vùng non nước bao la 
Rằng đây Lạc quốc hay là Ðào nguyên 
Hương Sơn là chốn non tiên 
Bồng lai mà thấy ở miền nhân gian.


CHÙA VĂN QUÁN




Chùa tọa lạc tại đường Văn Quán, thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây. Chùa được Hòa thượng Thích Tắc Nhẫn thuộc thiền phái Thiên Thai Giáo quán tông xây dựng từ năm 1953 đến năm 1955. Kế thừa trụ trì là các Tỳ kheo ni Thích nữ Đàm Kiên, Thích nữ Đàm Phú và Thích nữ Đàm Hạnh. Điện Phật được bài trí tôn nghiêm. Đặc biệt giữa chánh điện có đắp động Phật Linh Sơn từ lúc xây dựng chùa. Chùa đặt văn phòng Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Hà Tây từ năm 1958. Chùa thường xuyên đón tiếp nhiều đoàn khách trong nước, nước ngoài và đông đảo Phật tử đến lễ bái, sinh hoạt. (Chùa được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hoá quốc gia

03 Tháng Chín, 2006, 04:48:51 PM
Reply #46
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 339
  • Điểm bài viết: 4
  • Nothing is impossible....Try the best....
Hải Hưng

CHÙA DIỄN PHÚC



Chùa thường gọi là chùa Mễ Sở, tọa lạc ở thôn Mễ Sở, xã Mễ Sở, huyện Châu Giang, tỉnh Hải Hưng. Chùa được dựng vào thời Hậu Lê và đã được trùng tu nhiều lần. Ngôi chùa hiện nay có tôn trí pho tượng Quan Âm Thiên thủ Thiên nhãn (bằng gỗ), phần tượng cao 2,80m, bệ cao 0,53m. Đại hồng chung ở chùa cao 0,95m, đúc vào năm 1822. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.


CHÙA ĐỒNG NGỌ



Chùa thường gọi là chùa Cập Nhất, tọa lạc ở thôn Cập Nhất, xã Tiên Tiến, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Hưng. Sách Mỹ thuật của người Việt (Hà Nội, 1989) cho biết chùa có 2 tấm bia cổ (đã mất) có hai niên đại sớm: Lý Thái Bình (Lý Thánh Tông: 1054-1072, niên hiệu Long Thụy Thái Bình) và Đại chính nguyên niên (1530) cùng bát hương năm Hoàng Định 19 (1619). Ngôi chùa hiện nay mang dấu ấn của cuối thế kỷ XVII. Tấm bia "Kiến khai Cửu phẩm Liên Hoa bi ký" (1692) đã nói đến việc Thiền sư Chân Nguyên thuộc Thiền phái Trúc Lâm đã tổ chức dựng cây Cửu phẩm Liên Hoa vào mùa xuân năm Nhâm Thân (1692) thời Vua Lê Hy Tông. Cây Cửu phẩm cao 5,30m, mặt cắt 6 cạnh đều, 9 tầng (mỗi mặt gắn 3 pho tượng Phật, tổng số tượng là 162 pho), được đặt trong tòa Cửu phẩm vuông, 2 tầng 8 mái. Thượng tọa trụ trì Thích Thanh Đạt đã tổ chức đại trùng tu ngôi chùa vào năm 1993-1994, bài trí chánh điện trang nghiêm. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.


CHÙA ĐÔNG THUẦN



Chùa tọa lạc tại số 20, đại lộ Hồ Chí Minh, phường Nguyễn Trãi, thị xã Hải Hưng, tỉnh Hải Hưng. Chùa được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ XIX. Năm 1936, chùa được trùng tu, xây dựng tam quan, nhà giảng. Năm 1970, Hòa thượng Thích Tâm Minh về trụ trì chùa đã tổ chức nhiều đợt tu sửa, nhất là đợt đại trùng tu năm 1994. Chánh điện được bài trí tôn nghiêm. Chùa hiện đặt văn phòng Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Hải Hưng.


CHÙA KIM TRUNG



Chùa thường gọi là chùa Chuông, tọa lạc ở xóm Chùa, thôn Nhân Dục, xã Hiến Nam, thị xã Hưng Yên, tỉnh Hải Hưng. Chùa được xây dựng vào thế kỷ XV và đã được trùng tu nhiều lần. Tương truyền có một năm nước lụt mênh mông, có một quả chuông ở trên bè gỗ trôi dạt về thôn. Chuông có tiếng kêu to, ngân xa nên được gọi là "chuông vàng" và chùa từ đó được gọi là chùa Chuông. Ơở các tòa bái đường, thượng điện và hậu điện có đặt 52 pho tượng cổ như: Thập bát La-hán, Hộ Pháp... cùng khánh đá (dài 1,46m cao 0,66m), chuông đồng (cao 1,28m)... Thượng tọa trụ trì Thích Thanh Tâm đang tổ chức trùng tu ngôi chùa nổi tiếng ở Phố Hiến xưa: "Phố Hiến là cửa bể, chùa Chuông là rốn bể". Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

03 Tháng Chín, 2006, 04:52:04 PM
Reply #47
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 339
  • Điểm bài viết: 4
  • Nothing is impossible....Try the best....
CHÙA MINH KHÁNH



Chùa thường gọi là chùa Hương Đại, tọa lạc ở xã Thanh Bình, huyện Nam Thanh, tỉnh Hải Hưng. Chùa được xây dựng vào thời Lý và được trùng tu nhiều lần. Vị sư trụ trì Đàm Thục cùng các ông Nguyễn Hai Thanh, Nguyễn Văn Lệ, Nguyễn Văn An đã tổ chức đại trùng tu ngôi chùa, xây tam quan từ năm 1992. Chùa còn giữ nhiều di tích cổ như tháp, bia, cột đá, giếng nước... và đặc biệt là 13 đạo phong của các triều Lê - Nguyễn là: Vĩnh Khánh, Cảnh Hưng, Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Đồng Khánh, Duy Tân, Khải Định... đến nghị định xếp hạng di tích của Toàn quyền Đông Dương năm 1925. Chánh điện được đại trùng tu năm 1957, nhà bái đường được trùng tu năm 1987. Ơở chánh điện, chùa còn lưu giữ 9 viên ngọc xá-lợi tương truyền là của Trúc Lâm đệ nhất tổ Trần Nhân Tông và tháp lưu huyết của ngài. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.


CHÙA NGHIÊM QUANG



Chùa thường gọi là chùa Giám, tọa lạc ở xã Cẩm Sơn, huyện Cẩm Bình, tỉnh Hải Hưng. Chùa khởi dựng vào thời Hậu Lê. Trước đây, chùa ở ngoài đê sông Thái Bình. Sau năm 1971, chùa được dời vào địa điểm hiện nay. Chùa được cấu trúc theo kiểu tiền Phật hậu Thánh và kết thúc bằng tòa Cửu phẩm 3 tầng mái. Chùa còn giữ nhiều di tích của thế kỷ XVIII - XIX như tượng, đồ thờ tự, bia đá và đặc biệt là cây Cửu phẩm Liên Hoa, là một khối hộp gỗ 6 cạnh, 9 tầng, chạm cánh sen với nhiều họa tiết trang trí trên các trụ và tầng nền. Đây là nơi tưởng niệm Thiền sư Tuệ Tĩnh, một đại danh y của Việt Nam. Ông là người đứng ra hưng công xây dựng chùa, biến chùa thành cơ sở trồng dược liệu chữa bệnh cho dân. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.


CHÙA PHÁP VÂN



Chùa thường gọi là chùa Thái Lạc, tọa lạc ở thôn Thái Lạc, xã Lạc Hồng, huyện Mỹ Văn, tỉnh Hải Hưng. Chùa được khởi dựng từ đời Trần, đầu thế kỷ XIV. Ngôi chùa hiện nay được xây theo kiểu "Nội Công Ngoại Quốc", đã được trùng tu, xây dựng lại nhiều lần ở các thế kỷ XVI, XVII, XVIII, XIX. Bàn thờ ở thượng điện có bốn pho tượng các nữ thần Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện, là các vị thần trong hệ thống Tứ Pháp, gốc ở vùng Dâu (Hà Bắc). Đặc biệt chùa còn giữ được các tấm ván bưng chạm khắc trang trí của thế kỷ XIV, là những tiêu bản duy nhất ở Việt Nam, với những đề tài như Thiên nữ dâng hoa, nhạc công biểu diễn đàn, nhị, tiêu, sáo; phù điêu chạm rồng, phượng... Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.


CHÙA THANH MAI



Chùa thường gọi là chùa Hương Hải, tọa lạc trên núi thuộc xã Hoàng Hoa Thám, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Hưng. Chùa được dựng vào đời Trần. Đây từng là nơi trụ trì của Quốc sư Pháp Loa, Trúc Lâm đệ nhị Tổ. Sau khi ông mất, Vua Trần Minh Tông truy tặng thụy hiệu là "Minh Trí tôn giả". Vua đã đến viếng chùa và đề thơ: "Vãn Pháp Loa tôn giả, đề Thanh Mai Tự. Ngôi chùa mới được dựng lại trong khoảng 20 năm nay. Trước chùa có 4 tấm bia nói về việc trùng tu chùa vào thời Lê, 2 bảo tháp Phổ Quang, Tịch Quang. Đặc biệt, sau chùa có bảo tháp Viên Thông 3 tầng, thờ xá-lợi Thiền sư Pháp Loa. Điện Phật được bài trí đơn giản. Ơở gian giữa thờ Phật và thờ tượng Trúc Lâm Tam Tổ (Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang). Gian bên trái thờ đức Trần Hưng Đạo. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.


CHÙA VIÊN GIÁC



Chùa thường gọi là chùa Hương Lãng, chùa Lạng, tọa lạc ở xã Minh Hải, huyện Mỹ Văn, tỉnh Hải Hưng. Chùa được dựng vào thời Lý, khoảng năm 1115. Đây là một trong 72 ngôi đền, chùa do Lê Hậu lập nhằm giải oan cho 72 cung nữ đời Vua Lý Thánh Tông. Chùa bị sụp đổ năm 1954. Chùa còn để lại một số di vật thời Lý, thời Trần như cột đá, sấu đá và đặc biệt là tượng sư tử. Tượng là thành phần của một phiến đá rất lớn dài 2,8m, rộng 1,5m, cao 0,9m được dùng làm bệ cho một pho tượng (nay không còn). Người ta chỉ chạm, gọt 2 đầu của phiến đá, biến thành phần đầu và phần sau của con sư tử, mà người địa phương gọi là "Ông Sấm". Khu phế tích này đã được Bộ Văn hóa công nhận làDi tích lịch sử - văn hóa quốc gia.



03 Tháng Chín, 2006, 04:53:11 PM
Reply #48
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 339
  • Điểm bài viết: 4
  • Nothing is impossible....Try the best....
CHÙA TƯ PHÚC (CHÙA CÔN SƠN)



Chùa thường gọi là chùa Côn Sơn, chùa Hun, tọa lạc ở xã Cộng Hòa, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Hưng. Chùa được dựng từ thời Lý. Thời Trần, các vị vua thường đến chùa lễ bái. Theo sách Tự điển di tích văn hóa Việt Nam (Hà Nội, 1993), Trần Nhân Tông sau khi xuất gia cũng đến đây tham thiền nhập định. Năm 1329, Thiền sư Pháp Loa dựng am Hồ Thiên và am Chân Lạp. Sau đó, Thiền sư Huyền Quang từ chùa Vân Yên (Yên Tử) đến trụ trì. Chùa được coi là một Tổ đình của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Lúc ngài Huyền Quang mất (1334), Vua Trần Minh Tông cúng 10 lạng vàng để xây tháp thờ xá-lợi ngài ở lưng chừng núi Côn Sơn (còn gọi là núi Kỳ Lân). Điện Phật được bài trí thoáng, tôn nghiêm. Trước chùa có tấm bia khắc 3 chữ "Thanh Hư Động" là bút tích của Vua Trần Nghệ Tông (1322-1395) và tấm bia do Chiêu Dương Nguyễn Đức Minh soạn năm 1607 nói việc trùng tu chùa vào đầu thế kỷ XVII do nhà sư Thích Pháp Nhẫn thực hiện. Chùa được trùng tu vào năm 1995. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.
Chùa ở chân núi Côn Sơn, phía đông huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, gần làng Chi ngại, quê hương của dòng họ nhà Văn hoá Nguyễn Trãi. 

Chùa xây từ đời Trần (1225-1400), nơi tu luyện của trạng nguyên Lý Đạo Tài, pháp danh Huyền Quang, khi ông cáo quan về ở ẩn. Nguyễn Trãi khi về hưu được vua giao chức "Đề cứ" chùa Côn Sơn cùng vợ là Trần Phu Nhân, trông coi và mở rộng thêm. Chùa thờ Phật. Trong chùa còn fu hệ thống tượng phật. Trong đó có tượng Di Đà Tam Tôn cao 1m43, tượng Trúc Lam Tam Tổ tức là Trần Nhân Tông, tượng nhà sư Huyền Quang, tượng Trần Nguyên Đán và các bà vợ. Trước đây còn có tượng Nguyễn Trãi và Trần Phu nhân, nhưng đã bị phá năm 1954.

Trong chùa hiện còn nhiều di vật có giá trị như 8 bia thời Trần và Lê.
Một bia bốn mặt niên hiệu Thiệu Phong thứ 18 (1397)
Một bia có 3 chữ "Thanh Hư động" thời Long Khanh (1373-1377) năm Hoằng Định thứ 4 (1603).
Một bia niên hiệu Hoàng Định thứ 14 (1633) - vua Lê Thế Tông
Một bia niên hiệu Thịnh Đức nguyên niên (1653) - vua Lê Thần Tông
Một bia niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 7 (1712) - vua Lê Dụ Tông.
Mộtbia niên hiệu Bảo Thái thứ 2 (1721) vua Lê Dụ Tông.
Một bia niên hiệu Vĩnh Hậu thứ 4 (1738) - vua Lê Y Tông.

Chùa Côn Sơn là một di tích lịch sử văn hoá được xếp hạng


CHÙA HIẾN

Chùa Hiến nằm ở phía Tây của phố Hiến xưa thuộc thôn Mậu Dương, xã Hồng Châu, thị xã Hưng Yên, tỉnh Hải Hưng. 
Chùa Hiến được xây dựng để thờ Phật Thích Ca. Nhưng nếu nghiên cứu kỹ quá trình hình thành chùa Hiến, tên gọi, sự liên quan của chùa với nhiều di tích khác chúng ta mới thấy hết ý nghĩa lịch sử của ngôi chùa. Đó là sự hình thành và phát triển của phố Hiến về các mặt kinh tế, tôn giáo, tín ngưỡng.... 

Chùa Hiến làm theo kiểu chữ Quốc gồm 4 phần: Tiền đường, Thiên đường, Tam bảo và hành lang. 

- Tiền đường chùa Hiến gồm 5 gian 2 dĩ. Phần tiền đường kiến trúc đơn giản vì kèo theo kiểu con chồng đấu sen. 

- Tiếp phần tiền đường đến phần Thiên hương gồm 3 gian. Thiên hương được áp dụng song song với tiền đường, phần dưới thông nhau, phần mái Thiên hương được làm theo kiểu 4 mái. Trên nóc Thiên hương ghi hàng chữ "Phật lịch nhị thiên tứ bách cửu thập thất niên" (tức 2497 năm theo Phật lịch) tại Quý Tị thập lục (26 tháng 3 năm Quý Tp> 

- Qua Thiên hương đến Tam bảo, Tam bảo chùa Hiến gồm 3 gian được cấu trúc vuông góc với Thiên hương. Tam bảo được bố trí làm 3 khu vực thờ: Bên phải thờ Đức ông, bên trái thờ Mẫu, khu vực giữa thờ Phật Thích Ca, Phật Bà và Quan Bồ Tát. 

- Hai bên phải và trái cách nội tự 2 mét có 3 dãy hành lang bao xung quanh chùa: Mỗi dãy 7 gian vuông góc với nhau gọi là hành lang thập điện. 

Tại sân phía trước chùa có hai bia đá. ở bên phải chùa còn một giếng nước. Bên phải chếch về hướng Tây Nam có ngôi tháp gọi là tháp sư xây dựng bằng gạch. Phía trước cửa chùa ngay cổng ra vào hiện còn một cây nhãn tiên theo các cụ già truyền lại đây là cây nhãn được trồng từ thời kỳ phố Hiến, gọi là cây nhãn tiến-nhãn lấy qua cung tiến. Sát phía bên trái chùa Hiến là ngôi đình Hiến, nơi thờ quan Thái giám nhà Tống-Ngô. 

Bên chùa Hiến còn một số hiện vật tiêu biểu như sau: 

-1 bệ thờ sơn son thiếp vàng thời Lê.

- 2 bia đá 1 thời Lê, một thời Nguyễn.

- 3 câu đối máng.

- 1 bát hương đồng cao 0,37 mét, đường kính 0,32 mét phía trước có 3 chữ "Thiên ứng tự". Hai bên có hàng chữ Mậu Dương xã phụng sự, một bên ghi rõ niên hiệu: Bảo Đại thập lục niên nhuận lục nguyệt nhị thập ngũ nhất " (25 tháng 6 nhuận năm 1442).

- Trong chùa có 2 pho tượng Phật Thích Ca: 1 bằng đồng cao 0,20 mét đứng trên tòa sen. 1 bằng gỗ cao 0,69 mét cả bệ và pho tượng Mụ thiên 16 tay ngồi trên tòa sen cao 2 mét (cả bộ), ngoài ra còn một số các pho tượng: Bồ Tát, Tam thân, Tam thế...

- ở tòa giữa Tam bảo có 2 lọ lục bình gốm cao 0,62 mét, đường kính 0,26 mét có đắp nổi rồng uốn quanh, men rạn đá sơn lại nên khó xác định niên đại.

- Tại gian trái tiền đường chùa Hiến còn treo 1 chuông đồng cao 1,2 mét, đường kính 0,70 mét. Phía trên đề 4 chữ "Thiên ứng tự chung". Chuông được sản xuất vào năm "Hoàng Triều gia long vạn niên nhị thập tuế thứ nhị giáp tứ nguyệt nhị thập lục nhật" (1801).


03 Tháng Chín, 2006, 04:56:09 PM
Reply #49
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 339
  • Điểm bài viết: 4
  • Nothing is impossible....Try the best....
Hải Phòng

CHÙA HẢI NINH



Chùa tọa lạc ở xã Vĩnh Niệm, huyện An Hải, thành phố Hải Phòng. Chùa xưa được dựng vào thời Hậu Lê trên đất kinh Bắc. Năm 1931, chùa được đưa về xây dựng tại địa điểm hiện nay, do nhân dân quyên cúng vào hội Đồng Thiện, nên chùa thường được gọi là chùa Đồng Thiện. Ơở sân chùa có hai ngọn tháp ghi 40 bức ký họa về thời kỳ mới xây dựng thành phố Hải Phòng. Ni sư trụ trì Diệu Tâm đã cho tổ chức đại trùng tu ngôi chùa, hoàn thành vào năm 1995. Chùa là một danh lam của thành phố Hải Phòng ngày nay.


CHÙA NGUYỆT QUANG



Chùa thường gọi là chùa Đông Khê, tọa lạc tại phường Đông Khê, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Chùa được Thiền sư Như Hiện hiệu Nguyệt Quang, đệ tử của Thiền sư Chân Nguyên, khai sơn vào đời Vua Lê Hy Tông. Theo sách Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang, Thiền sư Như Hiện được tiếp nối y bát của truyền thống Trúc Lâm, kế thế các chùa Long Động, Quỳnh Lâm và Nguyệt Quang. Năm 1748, ngài được Vua Lê Hiển Tông ban chức Tăng Cang và năm 1757, được sắc phong là Tăng thống Thuần Giác Hòa thượng. Thiền sư Tính Tĩnh được ông trao quyền y bát Trúc Lâm và kế thế các chùa Long Động, Quỳnh Lâm và Nguyệt Quang vào năm 1765. Ngôi chùa hiện nay được Ni sư Thích nữ Đàm Thăng tổ chức xây dựng vào năm 1972 và trùng tu vào những năm 1994-1995. Chùa là một danh lam của thành phố Hải Phòng xưa nay.


CHÙA PHỔ CHIẾU



Chùa tọa lạc ở xã Dư Hàng Kênh, huyện An Hải, thành phố Hải Phòng. Chùa được Sư Ngô Chân Tử kiến lập và trụ trì đầu tiên vào năm 1953. Lúc đó chùa được gọi là Tam Giáo đường, thờ Tam Giáo đồng nguyên. Đến năm 1954, Hòa thượng Thích Thanh Quang, thuộc Thiền phái Lâm Tế, từ chùa Vọng Cung về trụ trì, đổi tên là chùa Phổ Chiếu, sửa chữa thành ngôi chùa thờ Phật. Chùa hiện có giữ một số di vật bằng đất nung và đá cổ. Thượng tọa trụ trì Thích Thanh Giác đang tổ chức trùng tu, mở rộng ngôi chùa từ năm 1995. Chùa là một di tích lịch sử của thành phố Hải Phòng.


CHÙA TƯỜNG LONG



Chùa tọa lạc trên núi Ngọc Sơn, thuộc phường Vạn Sơn, thị xã Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng, cách trung tâm thành phố khoảng 20 km. Tháp Tường Long được xây dựng vào năm 1058, đời Vua Lý Thánh Tông, có 9 tầng trên một nền ba cấp. Các tài liệu ngày nay cho biết vào tháng 9 năm 1058, Vua Lý Thánh Tông ngự ra cửa biển Ba Lộ, có đến thăm chỗ xây tháp. Năm sau, vua ban tên hiệu là tháp Tường Long. Tháp được tôn tạo vào đời Trần và Hậu Lê. Tháp bị đổ nát từ cuối thế kỷ XVIII. Chùa Tường Long được xây vào năm 1990 trên nền tháp ngày xưa. Chùa hiện còn giữ mấy mảnh chạm khắc trên đá, trên gạch của ngôi tháp cổ.




03 Tháng Chín, 2006, 04:57:21 PM
Reply #50
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 339
  • Điểm bài viết: 4
  • Nothing is impossible....Try the best....
CHÙA PHÚC LÂM (CHÙA DƯ HÀNG)



Chùa thường gọi là chùa Dư Hàng, chùa Hàng, tọa lạc ở số 121 phố Dư Hàng, phường Hồ Nam, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Chùa được dựng từ thời Lý. Năm 1672, quan Đô úy Nguyễn Đình Sách từ quan xuất gia, pháp hiệu Chân Huyền đứng ra xây dựng ngôi chùa mới. Đến đời Thành Thái, vào năm 1899, Hòa thượng Thông Hạnh đã trùng tu ngôi chùa, xây gác chuông. Năm 1917, chùa được sửa chữa lại. Thượng tọa trụ trì Thích Quảng Tùng đang tổ chức đại trùng tu ngôi chùa. Điện Phật được bài trí trang nghiêm, chùa có nhiều pho tượng quý, nhiều câu đối chạm khắc công phu, nổi bật là bức chạm lộng ở chánh điện do các nghệ nhân Hà Nam Ninh tạc vào đầu thế kỷ XIX. Ngoài vườn chùa có 9 tháp mộ, trong đó có nhóm tháp Trúc Lâm Tam Tổ. Chùa là ngôi danh lam cổ tự bậc nhất Hải Phòng xưa nay. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

Còn gọi là chùa Dư Hàng, một danh thắng đồng thời là trung tâm Phật giáo của Hải Phòng tương truyền chùa có từ rất lâu đời, lúc đầu chỉ dựng bằng tre lá. Đời Trần, các vị thánh tổ phái Trúc Lâm thường đến đây thuyết pháp. Năm 1672, sư cụ Chân Huyền đứng ra vận động nhân dân làm chùa to rộng, gồm gác chuông, nhà tổ, nhà tăng. Đời Thành Thái (1889-1907), sư tổ Phúc Nguyên lại sửa sang chùa to đẹp hơn và còn lại đến nay. Chùa xây theo kiểu chữ "đinh", hai bên là nhà tổ, đằng trước có tam quan rất đẹp, phía trong là sân rộng. Chùa có một gác chuông 5 gian 2 tầng, treo một quả chuông lớn. Tiền đường cách gác chuông một sana rộng; bên phải là 5 gian nhà tổ, nhà thọ trai và nhà ngang; bên trái là 5 gian nhà hậu. Tiền đường có 7 gian dựng theo kiểu vì kèo giá chiêng. ở sân trước tiền đường có đạt một đỉnh lớn bằng đồng hun. Năm gian thượng điện cũng dựng bằng gỗ, có những vì kèo chạm trổ tinh tế. Ngôi điện chính của chùa bài trí nhiều tượng phật. Trong chùa còn có nhiều tượng lớn và đẹp như tượng Hộ Pháp, tượng Trúc Lâm Tam tổ; nhiều đại tự, câu đối chạm khắc công phu theo phong cách nghệ thuật triều Nguyễn.

Chùa Phúc Lâm còn giữ được nhiều di vật quý như đỉnh đồng, chuông khánh đồng, bát hương lớn, tủ chạm cổ kính và đẹp. Các mảng chạm khắc, hộp hình miêu tả cảnh Đường Tăng đi lấy kinh Phật, chế tác tinh vi, sơn son thiếp vàng rực rõ tạo thêm vẻ uy nghi lộng lẫy. Ngoài vườn chùa có nhóm tháp Trúc Lâm tam tổ, tháp sư cụ Chân Huyền và nhiều vị cao tăng khác đã từng trụ trì ở chùa.


Tượng Phật Bằng Gỗ Mít

Hải Phòng- Chùa Đỏ tại Hải Phòng hiện là nơi có pho tượng Phật Thích Ca bằng gỗ lớn nhất Việt Nam. Tượng cao 5 mét 4 chưa kể bệ, do anh Đoàn Trúc tạc bằng 20 mét khối gỗ mít thành phẩm. Tin này được báo quốc nội loan như sau. Sinh ra ở làng nghề chạm khắc gỗ Nhân Hiền (xã Hiền Giang, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây) nên ngay từ năm 16 tuổi anh Đoàn Trúc đã theo học nghề các thợ giỏi ở làng.Sau hai năm làm "phó nhỏ", khi đã biết cầm vững các loại đục, chạm, anh xin vào làm ở hợp tác xã. Năm 1987, anh nhận việc về làm tại nhà, có thêm mấy anh em cùng họ hợp tác làm ăn. Cũng như hàng trăm thợ chạm khắc ở làng nghề Nhân Hiền, anh tạc các tượng Phật, tượng Quan Công, tượng các môn thần, có tượng anh tạo theo các tích trong truyện Tây Du Ký.Từ trăm ngàn mảnh gỗ, anh pha cắt thành phôi rồi tỉ mỉ tạo các loại tượng theo đủ các kích cỡ. Tượng của anh có bố cục hài hoà. Những đường nét của tượng từ ánh mắt, vẻ mặt, nếp áo được anh chạm trổ tỉ mỉ, khéo léo nên ở mỗi pho tượng - dù đặt chơi ở phòng khách hay đặt trên bệ ở các đền chùa - đều toát lên cái hồn riêng sống động.

Đầu năm 1998, sau khi tạc cho chùa Đỏ, toạ lạc ở phố Lê Lai, thành phố Hải Phòng tượng Địa Tạng và tượng Quan Âm cao 2,5m, vị sư trụ trì lại nhờ anh tạc pho tượng Thích Ca cỡ lớn. Để có phác thảo, anh dành 2 tháng đến thăm nhiều chùa tháp. Từ các tấm ảnh chụp tượng Thích Ca, anh nghiên cứu từ các chiều nghiêng, chính diện, từ vẻ mặt đến cánh tay kết ấn rồi tạc hình mẫu. Sau khi mọi chi tiết được diễn tả tỉ mỉ, việc tạc tượng được tiến hành từ tháng 3/1998 đến tháng 10/1999 thì hoàn tất. 

Để hoàn thành pho tượng cao 5,4m (không kể bệ), anh Đoàn Trúc cùng 10 thợ phụ đã lao động miệt mài trong gần 20 tháng, sử dụng 20m3 gỗ mít thành phẩm. Để có thể chuyển pho tượng từ Hà Tây về Hải Phòng, tượng được ghép từ 400 mảnh gỗ và liên kết với nhau bằng 700 cái chốt gỗ lim. Tạc một pho tượng rỗng (số gỗ chỉ chiếm một phần hai so với tượng đặc) nhưng người thợ phải vất vả hơn nhiều vì mọi sự tạo tác phải hết sức chính xác, nếu sơ suất khi tạc các đường nét, gỗ dễ bị thủng vì gỗ chỉ dày 15 - 20cm. Tháng 10/1999, pho tượng Thích Ca đã được chuyển và lắp ráp ở chùa Đỏ. Được biết, pho tượng Thích Ca ở chùa Đỏ do Đoàn Trúc chế tác là pho tượng Phật bằng gỗ lớn nhất ở Việt Nam hiện nay, được đồng bào gần xa tới chiêm ngưỡng ngày càng thêm đông đảo.


03 Tháng Chín, 2006, 05:00:29 PM
Reply #51
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 339
  • Điểm bài viết: 4
  • Nothing is impossible....Try the best....
Hồ Chí Minh

CHÙA ẤN QUANG



Chùa tọa lạc ở số 243 đường Sư Vạn Hạnh, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh. Vào năm 1948, Hòa thượng Thích Trí Hữu từ chùa Linh Ưứng ở Ngũ Hành Sơn (Quảng Nam - Đà Nẵng) vào lập ngôi chùa nhỏ mang tên Ưứng Quang. Đến năm 1950, Hòa thượng Thích Thiện Hòa nhận nhiệm vụ Viện chủ đã cho xây dựng ngôi chánh điện và đổi tên là chùa Ân Quang. 
Từ năm 1951, chùa được chọn làm Phật học đường Nam Việt. Hòa thượng Thiện Hòa được bầu làm Tổng Giám đốc đã đại trùng tu chùa và mở mang trường từ năm 1955 đến lúc ngài viên tịch (1978). 

Chùa là một trung tâm đào tạo nhiều tăng tài cho Phật giáo Việt Nam hiện đại, là trụ sở của Giáo hội Tăng già Nam Việt, văn phòng Viện Hóa Đạo và Viện Tăng Thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất trước đây. 

Hiện nay, chùa đặt văn phòng Ban Trị sự Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh. Chùa là nơi đón tiếp đông đảo Phật tử, du khách đến sinh hoạt, tham quan, chiêm bái thường xuyên.


CHÙA BÁT BỬU PHẬT ĐÀI



Chùa tọa lạc ở xã Lê Minh Xuân, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh, cách trung tâm thành phố khoảng 30km về phiá Tây Nam. Chùa được xây dựng trên một khu đất rộng hơn 10 hecta, trước mặt là cánh đồng thơm (dứa) mênh mông. Năm 1955, chùa Thanh Tâm được xây dựng. Trước chùa, Bát Bửu Phật đài xây dựng năm 1959, hoàn thành năm 1961. Phật đài được kiến trúc hình bát giác, cao 3m, tầng trên tôn trí tượng Phật Thích-ca cao 7m, nặng khoảng 4 tấn do điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu tạc năm 1957 và cư sĩ Ngô Chí Bình thỉnh từ chùa Xá Lợi về. 
Trải qua những năm tháng chiến tranh, bom đạn đã tàn phá xóm làng, thiêu rụi cả chùa Thanh Tâm, chỉ riêng ngôi Phật đài với Kim thân đức Phật vẫn sừng sững nơi hoang vắng, nên người dân địa phương đã gọi tòa di tích tôn nghiêm này là "Phật Cô Đơn". Năm 1988, Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh đã giao cho Thượng tọa Thích Thiện Bổn nhiệm vụ trụ trì, từng bước chỉnh trang và xây dựng khu di tích. Đến nay, Bát Bửu Phật đài đã trở thành một khu tham quan, chiêm bái hấp dẫn thu hút hàng vạn người đến hàng năm.
 

CHÙA BỬU QUANG




Chùa tọa lạc ở ấp Gò Dưa, xã Tam Bình, huyện Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa được Hòa thượng Hộ Tông xây dựng từ năm 1940. Đây là ngôi chùa đầu tiên của Phật giáo Nam Tông người Việt. Ngài là vị Tăng Thống đầu tiên của Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam, khóa I, năm 1957. Ngài đã cho xây dựng nhiều ngôi chùa, Phật học viện, đào tạo nhiều tăng tài... Chánh điện được bài trí tôn nghiêm. Chùa đã qua 7 đời trụ trì và 3 lần đại trùng tu. Lần trùng tu mới nhất do Đại đức Thích Thiện Nghiêm tổ chức vào hai năm 1995-1996.


CHÙA ĐÔNG HƯNG



Chùa tọa lạc ở số 201 đường Lương Định Của, xã An Khánh, huyện Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa do Hòa thượng Thích Bửu Chí khai sơn năm 1934. Ngài đã khai sơn ba chùa ở vùng này là Đông Hưng, Thiền Tịnh và Linh Sơn. Năm 1963, Hòa thượng Thích Hành Trụ, pháp hiệu Phước Bình, người Phú Yên đã về trụ trì chùa cho đến lúc viên tịch (1984). Ngài thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ 42, nguyên tu học tại Phật học đường chùa Tường Vân và chùa Tây Thiên (Huế) năm 1936, là một giảng sư danh tiếng của Phật giáo ở miền Trung và miền Nam, đã phiên dịch, ấn hành 15 tác phẩm Kinh luật như: Sa Di luật giải, Qui sơn cảnh sách... Chánh điện chùa được bài trí tôn nghiêm, các pho tượng và bao lam chạm gỗ được thếp vàng rực rỡ. Đại đức Thích Thông Kinh trụ trì hiện nay đã tổ chức tại chùa cơ sở điêu khắc gỗ các mặt hàng cao cấp như bao lam, tủ thờ, phù điêu...


03 Tháng Chín, 2006, 05:02:51 PM
Reply #52
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 339
  • Điểm bài viết: 4
  • Nothing is impossible....Try the best....
CHÙA DƯỢC SƯ



Chùa tọa lạc ở số 464 đường Lê Quang Định, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa do Sư Viết Tạo khai sơn vào năm 1929. Chùa đã qua ba đời trụ trì, được trùng tu vào năm 1950. 
Ni sư trụ trì Thích nữ Như Hòa đã tổ chức đại trùng tu ngôi chùa theo kiến trúc qui mô hiện đại vào năm 1994, khánh thành ngày 19-01-1995. Chánh điện được bài trí tôn nghiêm. Chùa là một Ni trường nổi tiếng của Phật giáo thành phố. 

Hòa thượng Thích Thiện Hoa đã đến giảng dạy ở đây từ năm 1953. Năm 1957, Hòa thượng mở những khóa huấn luyện trụ trì khắp lục tỉnh lấy tên là "Như Lai Sứ Giả" tại hai chùa Pháp Hội và Dược Sư. Chùa còn mở thường xuyên các lớp giáo lý Phật học phổ thông cho Phật tử. Chùa thường xuyên đón tiếp nhiều Phật tử, du khách đến sinh hoạt, tham quan, chiêm bái.


CHÙA GIÁC HẢI



Chùa tọa lạc ở số 345/45 đường Hùng Vương, quận 6, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa được dựng vào khoảng cuối thế kỷ XIX. Năm 1887, bà Trần Thị Liễu cất ngôi chùa nhỏ có tên Giác Sơn và cúng cho Hòa thượng Hoằng Ân. Hòa thượng Hoằng Ân cử đệ tử là ngài Từ Phong về trụ trì chùa, đổi tên chùa là Giác Hải. Hòa thượng Từ Phong là một giảng sư danh tiếng của Phật giáo ở miền Nam, tổng số tự viện các nơi cúng cho ngài khoảng 20 ngôi. Chùa đã được trùng tu nhiều lần. Chánh điện được bài trí tôn nghiêm. ở khu vực chùa có nhiều cơ sở tạc tượng chư Phật, Bồ-tát nổi tiếng ở thành phố.


CHÙA GIÁC LÂM



Chùa tọa lạc ở số 118 đường Lạc Long Quân, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa còn có tên là Sơn Can và Cẩm Đệm. Chùa được Lý Thụy Long, người Minh Hương quyên tiền xây cất vào năm 1744. Sau đó ông giao cho Thiền sư Phật Yý. Thiền sư Phật Yý giao cho đệ tử là Thiền sư Viên Quang trụ trì. Chùa đã trải qua các đời trụ trì: Thiền sư Viên Quang, Hải Tịnh, Minh Vi, Minh Khiêm, Như Lợi, Hồng Hưng, Nhựt Dần và Thượng tọa Lệ Sành đương nhiệm từ năm 1974. Chùa được  tiến hành hai lần đại trùng tu vào những năm 1799-1804 dưới thời Thiền sư Viên Quang trụ trì và các năm 1906-1910 dưới thời Thiền sư Như Lợi và Thiền sư Hồng Hưng trụ trì. Điện Phật được bài trí tôn nghiêm. Chùa có 113 pho tượng cổ, trong đó có 5 pho tượng bằng đồng, 8 câu đối, 9 bao lam, 19 hoành phi và các bàn thờ.... Tất cả đều là những tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao. Chùa là ngôi Tổ đình danh tiếng bậc nhất ở miền Nam. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

Có nhiều ngôi chùa cổ đã từng được ghi trong sử sách nhưng nay không còn lại dấu vết kiến trúc nào, như các chùa Từ Ân, Khải Tường, Mai Khâu (chùa Cây Mai), Kim Tiên, Gia Điền, Phước Hưng, Phước Hải... Bên cạnh đó, có những ngôi chùa tuy được lập khá sớm nhễng hình thể kiến trúc chủ yếu mới tạo dựng sau này, nhễ các chùa Phụng Sơn, Hội Sơn, Huê Nghiêm, Phước Tường... Theo quan điểm của nhà nghiên cứu Nguyễn Quảng Tuân, những ngôi chùa ở TP Hồ Chí Minh được xây dựng trước năm 1900 tuy có trùng tu nhưng vẫn giữ được khung gỗ truyền thống thì được xếp là "chùa cổ". Ngược lại, những ngôi chùa dù có kiến trúc theo khung gỗ cổ truyền nhưng dựng sau năm 1900 thì đều được xem là "chùa mới". Và ở góc độ nào đó, nếu như chùa Từ Ân là ngôi chùa cổ do tổ Phật ý (đời chúa Nguyễn Phúc Khoát) từ miền trung vào Sài Gòn lập sớm nhất, thì chùa Giác Lâm là ngôi chùa cổ có lối kiến trúc tiêu biểu nhất còn giữ được hình thể, đường nét, kết cấu cơ bản cho đến ngày nay.

Trong tác phẩm Gia Định thành thông chí, nhà văn hóa nổi tiếng Trịnh Hoài Đức cho biết chùa Giác Lâm do cư sĩ Lý Thụy Long người Minh Hương quyên tiền xây dựng vào mùa xuân năm Giáp Tý 1774, rồi xin tổ Phật ý ở chùa Từ Ân cử thầy Viên Quang về trụ trì. Nơi tọa lạc của chùa Giác Lâm xưa kia thuộc địa phận xã Phú Mỹ Thọ, huyện Bình Dương, trấn Phiên An, phủ Tân Bình. Hiện nay chùa nằm trên đường Lạc Long Quân thuộc phường 10, quận Tân Bình. Trải qua chín đời trụ trì, chùa được xem là Tổ đình của dòng Lâm Tế ở miền nam.

Các vị thiền sư trụ trì chùa đều là những bậc chân tu đáng kính, chẳng những uyên thâm Kinh Phật mà còn giỏi về nho học, y học, thiên văn, địa lý cùng nhiều ngành nghệ thuật. Thiền sư Tổ Tông - Viên Quang từng được Trịnh Hoài Đức làm thơ ca ngợi tài năng và công đức, hiện còn được khắc triện trên các bức sơn mài ở nhà thờ tổ. Bậc chân tu trụ trì chùa đầu tiên này là người có công đầu về việc trùng tu chùa Giác Lâm và biến nơi đây trở thành trung tâm Phật giáo lớn của toàn Nam Bộ. Còn thiền sư Hồng Hưng - Thanh Đạo được xem là vị tổ có công trong việc hoàn thiện quần thể kiến trúc chùa như hiện nay. Điều đó chứng tỏ sự am tường về nghệ thuật kiến trúc và óc thẩm mỹ hiếm có của bậc chân tu này.

Trong quá khứ, chùa được trùng tu quy mô lớn hai lần, vào các năm 1799-1804 và 1906-1909. Đầu năm 1999, chùa hoàn thành đợt trùng tu quy mô lần thứ ba với kinh phí do ủy ban Nhân dân TP Hồ Chí Minh đầu tư là 293 triệu đồng. Tuy bề ngoài có sửa đổi nhiều, nhưng cơ bản chùa vẫn giữ được kiểu kiến trúc ban đầu, đặc biệt là 98 cây cột cổ đứng dọc từ ngoài vào trong, chia thành ba lớp nhà bằng nhau. Tọa lạc xa trung tâm thành phố nên cảnh chùa xưa kia rất u tịch, vắng vẻ hợp với thế giới tu hành, như hai câu đối còn ghi ở chánh điện:

"Tự cổ tăng nhàn thường dẫn yên hà vi bạn lữ:

Sơn thâm thế cách chỉ bằng thảo mộc ký xuân thu"

Tạm dịch:

Chùa cổ sư nhàn cùng khói hương kết duyên bầu bạn

Non xa đời khuất chỉ cỏ hoa lưu dấu ngàn sau

Ngày 16-11-1988, chùa Giác Lâm được Bộ Văn hóa công nhận Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia. Đây là một trong những điểm văn hóa có sức thu hút mạnh mẽ du khách trong lẫn ngoài nước tới chiêm bái. Những ngày giáp Tết Kỷ Mão 1999, ngay sau khi chùa mới khánh thành đợt trùng tu quy mô lần thứ ba, đã có hàng nghìn du khách tìm đến ngôi cổ tự này để cầu phúc lộc cho năm mới.
 


03 Tháng Chín, 2006, 06:40:05 PM
Reply #53
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 339
  • Điểm bài viết: 4
  • Nothing is impossible....Try the best....
CHÙA GIÁC VIÊN



Chùa tọa lạc ở số 161/85/20 đường Lạc Long Quân, quận 11, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa ban đầu mang tên là Quan Âm các, được ngài Hương Đăng tạo dựng vào năm 1805 từ một am nhỏ thờ Bồ-tát Quan Thế Âm. Năm 1850, Thiền sư Hải Tịnh đổi Quan Âm các thành chùa Giác Viên. Chùa được trùng tu lớn vào các năm 1899-1902 dưới thời Hòa thượng Như Nhu trụ trì và vào các năm 1908-1910 dưới thời Hòa thượng Như Phòng trụ trì. Điện Phật được bài trí tôn nghiêm. Chùa có 135 pho tượng và 57 bao lam, hầu hết được tạo tác và chạm khắc vào hai lần đại trùng tu ngôi chùa. Các bao lam ở chùa có giá trị nghệ thuật cao, có bao lam chạm cả 2 mặt, đặc biệt là bao lam "Bá Điểu", người xem như thấy cả thế giới loài chim đang sinh hoạt ở quanh mình. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.
Chùa Giác Viên còn có tên là chùa Hố Đất, xưa là một am nhỏ, gọi tên là "Quan Âm Các", dựng vào năm 1798. Tương truyền, khi Hòa Thượng Hải Tịnh đại trùng tu chùa Giác Lâm, ông đã chọn ngôi đất chùa Giác Viên hiện nay làm bến xếp cây gỗ, trước khi chuyển vận bằng đường bộ đến Giác Lâm (dài 2km). Trước mặt chùa còn rạch Hố Đất (rạch Tân Hòa) đổ ra rạch Ông Bướng và kinh Lò Gốm, vốn là đường chở gỗ ngày xưa. Để tiện bề đôn đốc công việc, Hòa thượng dựng một nhà lá, trong đó thờ Phật. Phật tử lui tới ngày một đông đúc. Năm 1850 chùa được chính thức đổi tên thành Giác Viên. Chùa Giác Viên trong thời gian này được dùng làm cơ sở chánh học tập khoa ứng phú vùng Chợ Lớn. Trong chùa còn lại bức hoành phi đề "Tân Mão niên tại" nên có ý kiến cho rằng chùa đã có từ năm 1771 hoặc 1831.

Bình đồ chùa được bố cục theo kiểu chữ “trung" chiều ngang 70m, dài 58m. Phật điện được đặt giữa chùa. Hai bên có dãy nhà nối vào phần giữa bao bọc sân, trong đó trồng cây cảnh, non bộ. Ngoài ra, trong chùa còn có những dãy nhà phụ làm nhà trai và bếp, trường học. Nét đặc biệt trong kiến trúc chùa Giác Viên là bộ sườn gỗ chạm trổ tinh vi, tiêu biểu cho kiến trúc cổ truyền tại miền Nam. Qua các lần trùng tu lớn vào năm 1958, 1961, 1962, chùa được tu sửa theo kiến trúc mang màu sắc Tây phương hơn.

Trong chùa có tất cả 153 pho tượng, 57 bảo lam và 60 bức phù điêu.Trong khuôn viên chùa còn 2 công đất trước đây là nơi xây cất trường Phật học Lục Hòa Tăng, cơ sở in ấn tạp chí Lục Hòa Tăng, cơ quan ngôn luận của Giáo Hội và là nơi đào tạo bồi dưỡng tăng tài. Hiện nay chùa còn lưu lại nhiều tác phẩm điêu khắc với những đường nét chạm trồ tinh vi như những tấm thêu trên mặt gỗ. Đặc biệt chùa còn giữ được chiếc giá võng của triều đình nhà Nguyễn tặng vị Tổ sư Hải Tịnh, người sáng lập chùa Giác Viên và một gốc mai. 


CHÙA HOẰNG PHÁP



Chuyến xe buýt công cộng mang số 13, khởi hành từ Bùng Binh, chợ Bến Thành đã đưa chúng tôi tới trạm ngừng gần khoảng đường rẽ vào chùa Hoằng Pháp, Hốc Môn, trên xa lộ đi về hướng Mộc Bài, vào một buổi sáng đẹp trời của ngày đầu năm Bính Tuất.  Bước xuống xe, chúng tôi được những chiếc xe Honda ôm chờ đón khách vào chùa.  Thế là chúng tôi đã đến được chùa, đoạn cuối ngắn nhất của cuộc hành trình dài nửa vòng trái đất bằng phương tiện xe hai bánh, sau khi bay qua Thái Bình Dương bằng máy bay Boing 747 và bằng chuyến xe bốn bánh của công ty xe khách Saigon có máy lạnh và nhạc êm dịu không lời.

Chùa Hoằng Pháp không ẩn mình trong rừng sâu hay nằm trên đối núi tách biệt với thế giới náo nhiệt bên ngoài như một số ngôi chùa khác mà nằm ngay nơi thôn ấp, được bao bọc bởi nhà dân. Nghe người dân kể vào những ngày rằm, trăng sáng vằng vặc, âm vang tiếng hồng chung và tiếng niệm Phật Di Đà như thức tỉnh những ai còn hững hờ nơi cõi mê trong trần thế. Bao nhiêu người ở khắp miền đất nước sau nhiều ngày sống trong căng thẳng và buồn phiền đã trở về để tự nuôi dưỡng, xem nơi đây như là một góc trời riêng mới của mình. 

Chùa Hoằng Pháp được sáng lập bởi Hòa thượng Ngộ Chân Tử (1901-1988) vào năm 1957 với sáu mẫu đất hoang vu nay được kiến tạo khang trang bởi các đệ tử của ngài và thập phương Phật tử. Nơi đây là trung tâm hành trì pháp môn niệm Phật. Với một niệm Phật đường rộng lớn có sức chứa khoảng 1000 Phật tử và một toà nhà hai tầng lầu làm nơi lưu xá cho những người tham dự khoá tu.  Ngoài ra còn có trai đường đủ rộng cho một ngàn thực khách thọ trai cùng một lúc.  Chúng tôi đến đây nhằm đúng khoá tu Phật thất đầu năm 2006 và theo lời một vị sư trong chùa kể là đông đến 1000 người, thế nhưng lại không ồn ào náo nhiệt, cả không gian chỉ có âm vang tiếng niệm Phật Di Đà. 

Phật thất là một mô hình tổ chức tu học tương đối khá mới lạ ở Việt Nam.  Phật thất có nghĩa là một tập thể gồm nhiều người cùng tu tập niệm Phật trong thời gian bảy ngày bảy đêm tại chùa.  Đây là một mô hình tu Bát Quan Trai giới, kéo dài bảy ngày bảy đêm, thay vì một ngày một đêm.  Người cư sĩ tại gia cố gắng tu tập giống như đời sống phạm hạnh của người tu sĩ xuất gia trong một tuần.  Tuy nhiên, theo hoà thượng Thích Tịnh Không, một pháp sư hoằng truyền pháp môn Niệm Phật nổi tiếng hiện nay trên thế giới cho biết mục đích của Phật thất là trong vòng 7 ngày tu niệm Phật, hành giả phải đạt được “nhất tâm bất loạn” như được nói đến trong kinh A Di Ðà.  Ngài nói: “Công phu đến “nhất tâm bất loạn” thường được chia ra ba hạng: thượng, trung, hạ.  Công phu mức thượng gọi là “Lý nhất tâm bất loạn” có cùng một cảnh giới với mức “minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật” trong Tông Môn.  Kế đó là “sự nhất tâm bất loạn”: đoạn dứt kiến tư phiền não, công phu này tương đương với bậc Tiểu thừa A La Hán.  Mức thấp nhất gọi là “công phu thành phiến”.  Rất ít người có thể đạt được công phu mức thượng và mức trung, nhưng “công phu thành phiến” đích thật là ai cũng có thể đạt được. Trong vòng 24 giờ đồng hồ trong tâm chỉ có A Di Ðà Phật, ngoài ra không  khởi lên một vọng niệm gì khác, đây gọi là “công phu thành phiến..”. 

Được biết biết khóa tu Phật thất đầu tiên được tổ chức tại chùa Hoằng Pháp từ ngày 2-5 đến 9-5-1999 với số lượng 68 Phật tử tham dự. Tuy có nhiều khó khăn lúc ban đầu như sức ép từ thành hội không cho phép thu nhận Phật tử ngoài địa phương quận Hốc Môn và có ý quy kết việc tổ chức Phật Thất tại Hoằng Pháp mang lại nhiều bất lợi cho xã hội và do mô phỏng tổ chức của nước ngòai; Nhưng nhờ long thần hộ pháp, mọi trở ngại đều được hoá giải và cho đến nay chùa Hoằng Pháp đã tổ chức được tất cả 38 khoá tu.  Khóa tu hiện nay là khóa thứ 38 được tổ chức từ ngày 19-02-2006 đến 26-02-2006 với số lượng Phật tử tham khoảng 1000 vị. 



Do tổ chức chu đáo và kết quả với nhiều lợi lạc đem lại, nên số Phật tử từ mọi miền đất nước đến tham dự ngày càng đông.  Kể từ năm 2001 đến nay, chùa tổ chức mỗi năm 6 khoá tu Phật thất, mỗi khoá kéo dài một tuần, suốt ngày đêm niệm Phật.  Số Phật tử tham dự mỗi khoá dao động từ 500 đến 1000 người. Các Phật tử muốn tham dự thường phải ghi danh trước từ hai tuần đến một tháng.  Chùa tổ chức ăn ở và tu học miễn phí cho các Phật tử tham dự khoá tu.  Dù vậy, chùa hoan hỷ nhận tiền cúng dường của Phật tử bốn phương, dù đến tu hay không tu để trang trải chi phí tổ chức. 

Phật tử hay khách phương xa có thể đến tham quan hay tu thử trong các khoá tu.  Chúng tôi, ba người từ phương xa, không biết trước có khoá tu đang diễn tiến cũng được mời tham dự một ngày tu hoặc nếu không tham dự được cũng được nhà chùa mời dùng bữa ăn chay thanh đạm trong im lặng cùng với các khoá sinh.  Do tài tổ chức của ban tổ chức và do công năng tu tập của các hành gỉa mà giờ thọ trai với gần 1000 người diễn tiến trong im lặng.  Sau giờ thọ trai, các khoá sinh được tự do sinh hoạt cá nhân như giặt dũ quần áo hay ngủ trưa.  Riêng chúng tôi chọn một ghế đá dưới bóng mát tàng cây, ngồi nhìn sinh hoạt toàn cảnh chung quanh chùa và tự nghĩ làm sao mà thầy trụ trì và ban tổ chức có đủ tài chánh nuôi ăn ở miễn phí cho khoảng một nghìn người mỗi khoá.  Chi phí tài chánh rất lớn để tổ chức cho 38 khoá tu như vậy và cho những khoá tu kế tiếp.  Đến hỏi một sư cô trong ban thủ quỹ thì sư cô cho biết “tất cả đều do Phật tử bốn phương hoan hỷ cúng dường.  Chùa không đòi hỏi người đến tu phải trả tiền mà chỉ mong người đến tu tinh tấn tu hành, nếu sau khi tu cảm nhận được an lạc thì hãy giúp người khác đến tu để được an lạc như mình được thừa hưởng từ khoá tu…”.  Rất trân trọng cảm tạ thầy trụ trì Thích Chân Tính và ban tổ chức khoá tu.

Khoá tu thứ nhất của năm 2006 đã hoàn tất và chùa đang nhận ghi danh khoá tu thứ hai của năm tức khoá tu thứ 39 sẽ được tổ chức từ ngày 16-04-2006 đến ngày 23-04-2006. Theo thông báo, tất cả Phật tử tại gia đều có thể tham dự, nhưng phải có đủ sức khoẻ, không bị bệnh truyền nhiễm, huyết áp cao, tai biến mạch máu não và bệnh đau thắt ngực.  Ban tổ chức cũng không nhận người già yếu, đi đứng khó khăn, lẩm cẩm, tai điếc.  Mỗi khoá tu hiện nay được chia làm ba cấp: (cấp 1) Tín tâm niệm Phật:  Kinh hành 15 phút và ngồi niệm Phật 15 phút (niệm ra tiếng). (cấp 2) Chuyên tâm niệm Phật: Ngồi niệm Phật 30 phút và đi kinh hành 15 phút (niệm thầm). (3) Nhất tâm niệm Phất:  Ngồi niệm Phật (niệm thầm) từ 1 giờ đến 2 giờ.  Thời khoá công phu bắt đầu từ 3 giờ 30 phút sáng và chấm dứt lúc 9 giờ 30 tối. 

Được biết mô hình Phật thất là do sáng kiến của quý thầy người Trung Quốc nhằm tạo điều kiện cho Phật tử tại gia đến chùa tu tập trong 7 ngày đêm để tinh tấn niệm Phật đạt đến chỗ nhất tâm bất loạn. Còn ở Việt Nam, sau khi thăm tổ chức Phật Giáo Phật Quang San ở Đài Loan năm 1998 về, thày trụ trì Thích Chân Tính đã tổ chức khoá Phật thất đầu tiên vào ngày 2-5-1999 và có lẽ chùa Hoằng Pháp là nơi tổ chức mô hình Phật thất đầu tiên ở Việt Nam. Thật ra, từ trước năm 1975, tuy không có khoá tu Phật thất một tuần, nhưng lại có khoá tu niệm Phật “Bá Nhật”, tức một trăm ngày niệm Phật, được tổ chức tại chùa Nhất Nguyên ở Bình Dương mỗi năm một khoá vào dịp trước ngày vía Phật A Di Đà ba tháng.  Truyền thống tu tập này của chùa còn kéo dài cho đến ngày nay.

Theo thầy trụ trì cho biết mục đích của khoá tu là để giúp cho những Phật tử tại gia có điều kiện thuận lợi cắt bớt trần duyên, đến chùa tu tập hầu thúc liễm thân tâm, trau giồi giới đức, nhất tâm niệm Phật, chứng nghiệm sự an lạc trong giáo pháp của Phật.  Thày nói: 

“Ái bất trọng bất sinh Ta bà
Niệm bất nhất bất sinh Tịnh độ.”

Có nghĩa là, lời thầy trụ trì nói tiếp:  “nếu chúng ta không có tình cảm luyến ái thì chúng ta không sinh ở cõi Ta bà này. Vì tình cảm luyến ái đó mà chúng ta phải sinh vào cuộc đời này luẩn quẩn hết làm người,đến làm thú trong dục giới không bao giờ nhàm chán. Và nếu chúng ta niệm Phật mà không chuyên tâm, nhất tâm bất loạn thì không thể sinh về cõi Phật được. Cho nên cái tình cảm, cái luyến ái của gia đình thế gian là lối sống quen thuộc của con người. Từ đó gây nên bao nghiệp chướng nặng nề, khiến bị chìm đắm trôi lăn mãi trong biển khổ luân hồi sinh tử.

Người tu muốn chấm dứt khổ lụy tái sinh thì phải lập chí mạnh bước ra khỏi mọi trói buộc hệ lụy về năm thứ ham muốn. Phải biết tu tập xả ly, cắt đứt không luyến tiếc bất cứ cái gì, gắng công tập buông bỏ mọi lo nghĩ, mọi bám víu quá nặng về vật dục, siêng năng tháo gỡ từng hồi, từng chút mọi đeo níu vào cái tình cảm ham thích dục lạc đó.

Cho nên khóa tu Phật thất này là để tạo điều kiện cho quý vị tập cắt bớt trần duyên. Nếu quý vị chưa thể cắt được trọn vẹn, thì tập cắt 7 ngày. Như vậy khi đến đây, quý vị có còn nghĩ gì đến chuyện gia đình nữa hay không, cái đó đòi hỏi ở tâm tư của mỗi vị phải khẳng định và cố gắng buông hết, đừng có còn nghĩ gì hết…

Trong khóa tu Phật thất, pháp tu của chúng ta là niệm Phật. Trong lúc niệm Phật, thân chúng ta ngồi yên, miệng niệm Phật, ý chúng ta có chăm chú vào câu niệm Phật, nhớ tưởng đến Phật thì tâm chúng ta không vọng tưởng điên đảo hay lăng xăng nghĩ nhớ điều xấu gì khác, vì nhờ câu niệm Phật thúc liễm tâm chúng ta lại. Vì thế, chúng tôi thường xuyên nhắc nhở quý vị chú tâm vào từng động tác đi đứng, ăn uống… trong mọi sinh hoạt, thì mới có thể thúc liễm được cả thân và tâm”.

Thấy nói tiếp: “Ta trôi nổi trong nội thức suy tư và đối tượng bên ngoài suốt tháng năm, bồng bềnh theo cơn vui buồn giận ghét. Chúng ta không tự cứu mình trước bằng cách phản tỉnh làm lắng sạch tâm ý thì đâu có ai làm cho mình được. Nên chúng ta cần phải trút bỏ lại mọi lo toan trần thế, tự hứa gom mình vào định hướng tu tập.

Nếu lòng thanh thản không lo nghĩ
Ấy buổi êm đềm chốn thế gian

Chúng ta tu đến khi nào đạt được sự an vui thì mới về được cõi Cực lạc. Vì Tây phương Cực lạc được gọi là cõi Tịnh độ – Tịnh độ: độ là cõi, tịnh là thanh tịnh, Tịnh độ là cõi thanh tịnh – Chúng ta muốn về cõi Tịnh độ thì chúng ta phải thanh tịnh, còn tâm cứ bực tức, phiền não, buồn giận thì không về được Tịnh độ. Phật là thanh tịnh, cho nên ta cũng phải thanh tịnh thì việc đến với Phật không còn xa.

Nếu không quyết liệt lập chí, thì ta không về Cực lạc được. Do vậy tu Tịnh độ cũng phải lập nguyện thiết tha vô hạn như kẻ tha hương chí cốt muốn về yên nghỉ nơi cố hương. Nhưng điều cần thiết nhất là phải tin sâu chắc, nguyện tha thiết mới cảm thông với Phật, mới có thể quyết định hiện đời ra khỏi Ta Bà sinh về Cực Lạc…”

Khởi đi từ mái nhà tranh, đến nay chùa Hoằng Pháp đã tồn tại được gần nửa thế kỷ. Theo sử sách ghi lại tại chùa, khi còn tại thế hoà thượng khai sáng quanh năm ở túp lều tranh, vách đất, nhưng trong lòng luôn mang một hoài bão hoằng pháp lợi sinh. Dầu đến lúc gần lìa cõi tạm, ngài vẫn còn chưa thỏa nguyện bình sinh. Mỗi khi các đệ tử xa gần về thăm là ngài cứ nhắc nhở: “Hãy tinh tấn tu hành, chuyên cần niệm Phật đừng để vọng niệm theo trần cảnh...”.  và hôm nay gần một nghìn hành gỉa trong khoá tu 38 đang chuyên cần niệm Phật để cố gắng thanh tịnh hoá tâm ý y theo lời dạy của thầy.



03 Tháng Chín, 2006, 06:43:29 PM
Reply #54
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 339
  • Điểm bài viết: 4
  • Nothing is impossible....Try the best....
CHÙA HỘI SƠN



Chùa tọa lạc ở số 1A1, ấp Cầu Ông Táng, xã Long Bình, huyện Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh, trên một ngọn đồi bên sông Đồng Nai. Tương truyền chùa do Thiền sư Khánh Long dựng vào thế kỷ XVIII. Sách Gia Định Thành Thông Chí giới thiệu về chùa: "Ơở đuôi dãy núi Châu Thới về phía Bắc, nứt ra một chi chạy đến địa phận thôn Long Tuy, rồi nổi lên gò cao bằng phẳng rộng rãi; ở trên núi có hang hổ và suối nước, dân chúng ở dọc theo đó. Trên núi có chùa Hội Sơn là chỗ Thiền sư Khánh Long sáng tạo để tu hành..." Đến năm 1927, ông Cả Nguyễn Minh Giác đã trùng kiến ngôi chùa. Năm 1938, Sư bà Thích nữ Như Thanh tổ chức trùng tu lớn. Trụ trì ngôi chùa hiện nay là Đại đức Thích Nhựt Phát đã tổ chức trùng tu nhiều đợt. Chùa có nhiều pho tượng cổ, tháp cổ. Khu đất chùa được xếp là 1 trong 26 di tích khảo cổ học (thuộc thời kỳ kim khí) ở thành phố Hồ Chí Minh. Các nhà khảo cổ học đã tìm được rìu đá, đục đá, nhiều mảnh gốm... có niên đại khoảng 4000 năm. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.


CHÙA HUỆ LÂM



Chùa tọa lạc tại số 154 đường Tùng Thiện Vương, quận 8, thành phố Hồ Chí Minh. Tương truyền chùa được lập vào năm 1780. Ơở chùa có treo hai câu ghi sự tích bà Chiêm Thị Mai tạo dựng chùa hơn một trăm năm đã hư hỏng, đến tháng 4 năm Nhâm Tý (1912), bà Trần Thị, phu nhân Đỗ Hữu Phương cho trùng tu. Chánh điện được bài trí tôn nghiêm. Tượng đức Bổn sư được tôn trí trên cao, kế đến là bộ tượng Di-đà Tam Tôn... Hai bên vách chánh điện có đặt thờ bộ tượng cổ Thập Điện Minh Vương. Chùa còn giữ bức hoành sơn son thếp vàng 5 chữ "Sắc tứ Huệ Lâm Tự" do Vua Khải Định cấp. Ni sư trụ trì Thích nữ Giác Nhẫn đã tổ chức trùng tu, kiến thiết ngôi chùa vào các năm 1970, 1988 và 1991.


CHÙA HUÊ NGHIÊM PHÚ NHUẬN



Chùa tọa lạc ở số 187/3 đường Trần Kế Xương, quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa được Hòa thượng Thọ Dã xây dựng vào năm Giáp Ngọ (1954), là ngôi chùa Phật giáo Hoa Tông theo phái Huê Nghiêm (Trung Quốc). 
Chùa có nhiều pho tượng lớn như tượng đức Phật Di-đà, tượng đức Phật Thích-ca và tượng đức Phật Dược Sư đắp sơn mài, được thỉnh từ Hồng Kông về năm 1954. Ở sân chùa có tháp La-hán lục giác được xây vào năm 1962, hoàn thành năm 1965. Các mặt chung quanh tháp, họa sĩ Tả Bạch Đào đã khắc bộ Thập bát La-hán theo mẫu của ngài Trúc Thiền (một cao tăng tại tỉnh Tứ Xuyên vẽ, được Từ Hy Thái hậu đời nhà Thanh chọn làm bộ tranh đẹp nhất). 

Chùa đã tổ chức Đại giới đàn hai lần vào năm 1964 và năm 1969.

Chùa tọa lạc ở số 20/8 đường Đặng Văn Bi, thị trấn Thủ Đức, huyện Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa được Thiền sư Thiệt Thoại - Tánh Tường khai sơn vào thế kỷ XVIII. Lúc đầu, chùa xây ở vùng đất thấp, cách ngôi chùa hiện nay khoảng 100m. Về sau, bà Nguyễn Thị Hiên đã hiến đất để xây lại ngôi chùa. 

Chùa được trùng tu nhiều lần. Lần trùng kiến lớn nhất vào cuối thế kỷ XIX do Thiền sư Đạt Lý - Huệ Lưu (đời thứ 38 dòng Lâm Tế) tổ chức. Kiến trúc chùa hiện nay được thay đổi ở những lần trùng tu vào các năm 1960, 1969 và 1990 do các ngài Thiện Bửu và Trí Đức tổ chức, mang dáng dấp của một ngôi chùa hiện đại. Chánh điện được bài trí tôn nghiêm. Bộ tượng Di-đà Tam Tôn được thờ ở vị trí cao nhất, tiếp đó là bộ tượng Tam Thế Phật, tượng Thích-ca đản sanh... Đặc biệt chùa có pho tượng cổ Di-đà, cao 1m. Chùa là nơi phát xuất nhiều vị cao tăng của Phật giáo miền Nam, như Thiền sư Tế Giác - Quảng Châu, Thiền sư Đạt Lý - Huệ Lưu, Hòa thượng Từ Vân, Hòa thượng Trí Đức, Thượng tọa Trí Quảng... 

Chùa là ngôi cổ tự nổi tiếng ở thành phố xưa nay, đã đón tiếp thường xuyên các Phật tử, du khách trong nước, nước ngoài đến tham quan, chiêm bái.


CHÙA HUỆ NGHIÊM



Chùa tọa lạc tại thị trấn An Lạc, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh, trước Bến xe miền Tây. Chùa do Hòa thượng Thích Thiện Hòa khai sáng, xây dựng vào ngày 11-11-1962 theo bản vẽ của kiến trúc sư Võ Đình Diệp. Hòa thượng người làng Tân Nhựt (Chợ Lớn), xuất gia thọ giới với Tổ Khánh Hòa tại Phật học đường Lưỡng Xuyên (Trà Vinh) năm 1935 và theo học nhiều Phật học đường ở miền Trung, miền Bắc từ năm 1936 đến năm 1948. Ngài là một danh tăng lỗi lạc của Phật giáo Việt Nam về các lãnh vực truyền giới, kiến thiết và trước tác. Hòa thượng viên tịch vào ngày 07-02-1978. 
Chùa là nơi tu học của chư tăng từ năm 1963 đến năm 1985 với các tên: Trường trung học chuyên khoa, Phật học viện Huệ Nghiêm, Viện cao đẳng Phật học Huệ Nghiêm. Chùa đã được trùng tu vào năm 1965 và năm 1989. Trong khuôn chùa có nhiều công trình đẹp như tháp chuông, đài Quan Âm, tháp Phổ Đồng (cao 32m, xây năm 1972), đặc biệt là pho tượng đức Phật Thích-ca (cao 4,5m, ngang 4,5m) do điêu khắc gia Lê Thành Nhơn sáng tác, an vị vào năm 1979.


CHÙA KHÁNH HƯNG



Chùa tọa lạc tại số 390/8 đường Cách Mạng Tháng 8, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh. "Chùa được lập vào khoảng thế kỷ XIX. "Khánh Hưng" là tên ghép của hai vùng Khánh Hội - Hòa Hưng. Kiến trúc ban đầu còn sơ sài. Đến năm 1947, ngài Thích Pháp Lan, người Bình Định, thuộc dòng thiền Lâm Tế chánh tông đời thứ 42 về chùa thuyết pháp và được tín đồ địa phương mời ở lại trụ trì. Cuối năm 1948, ngài Pháp Lan đã tổ chức trùng tu ngôi chùa. Năm 1950, ngài mở phòng chẩn trị thuốc Nam miễn phí, tổ chức trùng tu chùa lần thứ 2. Năm 1953, ngài mở lớp Phật học, đào tạo được nhiều tăng, ni. Năm 1993, Hòa thượng Pháp Lan đã tổ chức đại trùng tu chùa bằng vật liệu kiên cố. Ngài viên tịch vào ngày 01-03-1994. Tiếp nối trụ trì là thầy Thiện Tâm. Điện Phật được bài trí tôn nghiêm. Chùa còn giữ nhiều pho tượng cổ như: bộ Di-đà Tam Tôn, tượng Chuẩn-đề, tượng Hộ Pháp.

03 Tháng Chín, 2006, 06:48:29 PM
Reply #55
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 339
  • Điểm bài viết: 4
  • Nothing is impossible....Try the best....
CHÙA KỲ VIÊN



Chùa tọa lạc ở 610 đường Nguyễn Đình Chiểu, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa do Hòa thượng Hộ Tông và kỹ sư Nguyễn Văn Hiểu (Hội trưởng Hội cư sĩ) đứng ra xây dựng vào năm 1949. 
Ngài Hộ Tông quê tại Tân Châu (An Giang), đã đậu bằng bác sĩ và được cử làm việc ở Campuchia. Ngài đã lập chùa Sùng Phước ở PhnômPênh và được đức Phó Vua sãi Campuchia truyền giới xuất gia tại chùa này vào năm 1940. Năm 1957, trong hội nghị bầu Ban Chưởng quản Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam khóa I, ngài được suy cử chức vụ Tăng Thống. 

Các vị cao tăng như Hòa thượng Hộ Tông, Hòa thượng Thiện Luật, Hòa thượng Bửu Chơn, Hòa thượng Tối Thắng, Hòa thượng Ân Lâm, Hòa thượng Giới Nghiêm đều thường trụ tại chùa trong các nhiệm kỳ Tăng Thống. 

Chùa hiện nay do Hòa thượng Siêu Việt trụ trì, là trụ sở của hệ phái Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam, là nơi hoằng pháp và nơi tiếp đón các phái đoàn Phật giáo quốc tế thuộc hệ Theravada (Nguyên thủy).


CHÙA LINH QUANG



Chùa tọa lạc ở số 40/60 đường Nguyễn Khoái, Quận 4, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa do Hòa thượng Thích Phổ Ưứng thuộc dòng Lâm Tế Chánh tông đời 42 sáng lập vào năm 1953. 
Năm 1963, ngài đã tổ chức đại trùng tu ngôi chùa đến năm 1969 mới hoàn thành. Hòa thượng viên tịch năm 1983. Thượng tọa Thích Từ Giang kế thế trụ trì, đã tổ chức trùng tu, xây cất, mở rộng ngôi chùa liên tục từ năm 1992 đến nay. 

Chùa có quả chuông cao 0,76m đời Minh Mạng và một pho tượng cổ bằng đá cao 0,76m (được vớt lên từ đáy sông Đồng Nai vào năm 1972) nhiều nhà nghiên cứu cho biết là tượng Phật thời Vương quốc Phù Nam. 

Đặc biệt, chùa có lập Trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật từ năm 1989, có 92 em từ 6 tuổi đến 20 tuổi được 26 nhân viên chăm sóc miễn phí tại đây; và phòng khám bệnh từ thiện hoạt động các ngày thứ 2, 4, 6, chủ nhật, miễn phí hoàn toàn cho bệnh nhân nghèo


CHÙA LINH SƠN



Chùa tọa lạc ở số 149 đường Cô Giang, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa nguyên trước đây là ngôi miếu thờ Linh Sơn Thánh Mẫu. Đến cuối thế kỷ XIX, được xây dựng thành ngôi chùa. Năm 1931, Hội Nam Kỳ nghiên cứu Phật học ra đời, đặt trụ sở ở chùa. Hội ra tạp chí Từ Bi Âm từ đâỗu năm 1932. Kiến trúc chùa hiện nay do Hòa thượng Thích Nhật Minh tổ chức đại trùng tu vào năm 1968. Ngài quê ở Tân Lợi (Minh Hải), thọ giới tại chùa Sắc tứ Quan Âm (Cà Mau) năm 1922. Năm 1953, ngài được cử làm Tăng trưởng ba tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau. Năm 1968, ngài được bầu làm trụ trì kiêm hội chủ Linh Sơn Phật học. Ngài là một giảng sư danh tiếng ở miền Nam, đã mở nhiều đại giới đàn. Đặc biệt năm 1971, đại lễ khánh thành chùa Linh Sơn được tổ chức cùng với đại giới đàn và lễ thỉnh ngọc Xá-lợi Phật Thích-ca do ngài Narada (Tích Lan) cúng dường thờ tại chùa. Hòa thượng viên tịch vào ngày 28-04-1993. Chánh điện được bài trí trang nghiêm. Chùa thường xuyên đón tiếp nhiều Phật tử, du khách đến tham quan, chiêm bái.


CHÙA LONG HUÊ



Chùa tọa lạc ở số 131/27 đường Nguyễn Thái Sơn, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh. Theo tấm bảng bằng gỗ do ông Thiện Ngọc khắc ghi vào năm 1912 còn lưu giữ ở chùa thì chùa do Thiền sư Đạo Thông, người Quảng Nam, vào xã Cai Hạt lập một am nhỏ để tu hành vào năm 1798. 
Chùa đã được Vua Gia Long ban tấm biển "Sắc tứ Long Huê Tự". Dưới đời Vua Thành Thái, Hòa thượng Từ Huệ đã tổ chức trùng kiến ngôi chùa trang nghiêm. Chùa ngày trước còn có tên là Quang Long Tự, Huệ Long Tự. Chùa được đại trùng tu vào năm 1966. Chánh điện được bài trí tôn nghiêm. Ở đây có bộ tượng cổ Di-đà Tam Tôn bằng gỗ và Đại hồng chung nặng hơn 1000kg, cao 1,70m, được đúc ở chùa vào năm 1987. 

Chùa còn giữ một con dấu bằng ngà, mặt trên có chạm hình kỳ lân, mặt dấu khắc 4 chữ triện "Phật Pháp Tăng Bảo" (1871).


CHÙA LONG NHIỄU



Chùa tọa lạc ở số 10/3 khu phố 3, thị trấn Thủ Đức, huyện Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa được khai sơn vào cuối thế kỷ XIX, là một trong những ngôi chùa cổ nổi tiếng ở thành phố. Chùa được đại trùng tu vào năm 1968. Chánh điện được bài trí tôn nghiêm, chùa có nhiều pho tượng cổ. Ni sư trụ trì Thích nữ Đạt Lý đã tổ chức trùng tu, mở rộng chùa những năm gần đây.

03 Tháng Chín, 2006, 06:52:23 PM
Reply #56
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 339
  • Điểm bài viết: 4
  • Nothing is impossible....Try the best....
CHÙA LONG THẠNH



Chùa tọa lạc ở xã Tân Tạo, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa do Thiền sư Trí Tâm khai sơn vào thế kỷ XVIII. Vào năm 1862, ngài Minh Hòa - Hoan Hỷ đã đến chùa xin xuất gia học đạo với Thiền sư Tiên Cần - Từ Nhượng. Sau đó, ngài đã xây dựng ngôi chùa trở thành trường Phật học, một trung tâm hoằng pháp danh tiếng ở Nam Kỳ lục tỉnh, thu hút được tăng sĩ khắp nơi đến tu học. Ngài viên tịch năm 1916, trao quyền thừa kế cho ngài Thiên Quang - Như Hào. Đến năm 1945, chùa bị hư hỏng hoàn toàn, sau đó được xây dựng đơn sơ. Kiến trúc chùa ngày nay đã được Hòa thượng Thích Bửu ý cho trùng tu vào các năm 1959, 1984, 1992 và 1995. Chánh điện được bài trí đơn giản, trang nghiêm. Chùa có nhiều pho tượng cổ và tháp cổ.


CHÙA NAM THIÊN NHAT TRỤ



Hà Nội có Chùa Một Cột được xây dựng đời nhà Lý đầu thế kỷ XI. Sài Gòn có "Nam Thiên nhất trụ" (Trời Nam một trụ) gọi nôm na là chùa Một Cột. Chùa tọa lạc ở đường Ðặng Văn Bi, quận Thủ Đức, TPHCM.
Chùa do Hòa thượng Thích Trí Dũng dựng vào năm 1958. Kiến trúc sư Nguyễn Gia Đức vẽ thiết kế. Chánh điện được bài trí tôn nghiêm. Các pho tượng Phật, hương án, bao lam ở điện Phật do nghệ nhân Bá Nhâm thực hiện trong những năm 1970. Trước ngôi chánh điện là đài Liên Hoa (thường gọi là chùa Một Cột), dạng kiến trúc như đài Liên Hoa chùa Diên Hựu (Hà Nội), bên trong thờ tượng Bồ-tát Quan Âm. Khuôn viên chùa rộng khoảng 1 hecta. Ở đây có nhiều pho tượng lớn lộ thiên như: tượng đức Phật Di-đà, đức Phật Thích-ca, đức Phật Di-lặc, tượng Bồ-tát Quan Âm, Bồ-tát Địa Tạng... Sau ngôi chánh điện là nhà lưu niệm và bảo tháp Nam Thiên. Kinh phí xây dựng chùa do hòa thượng và bà Ðỗ Thị Vinh (pháp danh Ðức Hiển) tự lo toàn bộ công trình, không dùng tiền công quả của Phật tử. Chùa khởi công xây dựng ngày 8-4-1958, hoàn tất 1977.

Theo tinh thần văn bia hòa thượng, dựng Nam Thiên nhất trụ tuân thủ khuôn mẫu Thăng Long nhất trụ ở Hà Nội, ước mơ của vua Lý. Xây dựng chùa này cốt để các tín ngưỡng phương Nam chiêm ngưỡng lễ Phật, nhớ về cội nguồn tổ tiên, hun đúc hy vọng quốc thái dân an, quê hương hưng thịnh. 

Trụ chùa Một Cột đúc vĩnh cửu bằng xi măng cốt thép. Mái lợp ngói uốn cong như chùa Một Cột Hà Nội, nhưng thấp hơn, nhỏ hơn. Quanh chùa là hồ nước hình vuông có tên là Hồ Long Nhãn (hồ mắt rồng). Dưới hồ thả rùa, cá kiểng nhiều màu bơi lượn. Nước hồ xanh màu Hồ Gươm. Trong hồ có xuồng nhỏ làm vệ sinh môi trường mặt nước. Khuôn viên chùa rộng rãi, thoáng mát bởi vòng cây xanh cổ thụ, đường đi lối lại vệ sinh sạch sẽ càng thư giãn bởi có hoa kiểng. 
   
Nhà lưu niệm Hòa thượng Thích Trí Dũng mô phỏng chùa Một Cột. Quanh hồ sen thơm ngát. Nhà lưu niệm trưng bày bút tích hòa thượng bày tỏ nguyện vọng được tặng Nhà nước cổ vật mà hòa thượng đã giữ gìn 30 năm qua. Thư kể rằng, khi thi công đào móng chùa, nhà chùa phát hiện một tảng đá lớn. Trên mặt tảng đá có một cái đĩa kim loại khác thường (không biết kim loại gì). Ðĩa có đường kính 0,38m, dày 1m, nặng 6,200 kg. Trong đĩa có chữ "Ngũ Tử đăng Khoa" (năm con đỗ đại khoa).

Nhiều đòan thể, tổ chức, cá nhân mặc cả để có được chiếc đĩa quý giá ấy. Có lúc chiếc đĩa được trả giá tới 200 lượng vàng và 5 triệu đồng tiền mặt. Tuy nhiên, báu vật của tiền nhân đất Nam Thiên nhất trụ Sài Gòn Gia Ðịnh không hề lay chuyển trước kinh tế cám dỗ.

Nam Thiên nhất trụ - chùa Một Cột ở Sài Gòn – là nét độc đáo trong đời sống văn hóa tinh thần người Sài Gòn – Gia Định. Nam Thiên nhất trụ hiện diện vẻ đẹp bên trong của người Sài Gòn biết giữ gìn, phát triển bản sắc văn hóa dân tộc…

Tọa lạc tại đường Nguyễn Văn Bi, quận Thủ Đức, Nam Thiên Nhất Trụ là ngôi chùa Một Cột được nhiều người biết đến không những bởi kiến trúc độc đáo mà còn là nơi lui tới của nhiều chư tăng phật tử ở phương Nam. 
Cổng Nam Thiên Nhất Trụ 
Với khuôn viên rộng khoảng một héc ta, chùa Nam Thiên Nhất Trụ được Hòa thượng Thích Trí Dũng tổ chức xây dựng năm 1958. Kiến trúc sư Nguyễn Gia Đức đã vẽ thiết kế ngôi chùa này dựa theo kiến trúc chùa Diên Hựu (chùa Một Cột ở Hà Nội) được dựng lên vào đời nhà Lý. Chùa Nam Thiên Nhất Trụ là nơi để nhân dân và các chư tăng phật tử ở miền Nam có dịp đến chiêm ngưỡng lễ Phật, nhớ về cội nguồn tổ tiên, cầu cho quốc thái dân an, quê hương hưng thịnh. Từ cổng tam quan đi vào, hồ Long Nhã vuông, rộng, án ngữ giữa sân chùa. Hồ vừa có cá chép vừa có rùa sinh sống, điểm trong làn nước trong xanh và thanh tịnh ấy là những khóm sen hồng, sen trắng vươn những chiếc lá non với nhiều bông hoa khoe sắc. Trụ vững giữa hồ là ngôi chùa Một Cột với mái ngói thâm nâu, vòm mái uốn cong đầu đao trông rất uy nghi, cổ kính. Trụ chùa Một Cột được đúc vĩnh cửu bằng xi măng cốt thép. Chiếc cầu dẫn vào chùa trông rất lạ mắt, hai bên là những chậu mai vàng và những hàng sứ trắng. Bên trong chùa thờ 

Đức Bồ Tát Quan Thế Âm, hương khói nghi ngút. Vòng ra đằng sau, chánh điện được bài trí trang nghiêm, gian giữa thờ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, các pho tượng Phật, Bồ Tát, Hộ Pháp; Sau chánh điện là nhà lưu niệm và bảo tháp Nam Thiên. Trong nhà lưu niệm có lưu bút tích của hoà thượng Thích Trí Dũng. Khuôn viên chùa có nhiều pho tượng lớn lộ thiên như tượng Phật A Di đà, Phật Di Lặc, Bồ Tát Địa Tạng...Giữa chùa là một màu xanh của cây lá. Vào trong chùa, mọi ồn ào, tất bật của cuộc sống bên ngoài không còn nữa mà thay vào đó là sự thanh tịnh đến lạ lùng. 

Giữa sự đông đúc của phố thị, Nam Thiên Nhất Trụ đứng sừng sững  trong một khoảng không gian xanh, là một điểm nhấn ấn tượng trong lòng thành phố. Nơi đây là một trong những danh lam thắng cảnh để nhân dân miền Nam chiêm ngưỡng. Cùng với nhiều ngôi chùa khác ở thành phố Hồ Chí Minh, Nam Thiên Nhất Trụ là một trong những công trình kiến trúc đẹp, mang đậm nét độc đáo trong đời sống văn hoá tinh thần người Sài Gòn. 




CHÙA NGỌC PHƯƠNG



Tịnh xá tọa lạc tại số 498/1 đường Lê Quang Định, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh. Tịnh xá do Ni trưởng Huỳnh Liên khai sơn năm 1958, nguyên là trụ sở trung ương của hệ phái Ni giới Khất sĩ Việt Nam. Ni trưởng quê làng Phú Mỹ (Mỹ Tho), được Tổ sư Minh Đăng Quang truyền thọ giới pháp y bát Khất sĩ tại chùa Linh Bửu (Mỹ Tho) vào năm 1947, là Trưởng tử ni của ngài. Suốt 40 năm hành đạo, Ni trưởng đã thành lập được nhiều ngôi tịnh xá, thu nhận hàng ngàn ni chúng, diễn dịch bằng văn vần nhiều kinh tạng chữ Hán và chữ Pali..., đặc biệt Ni trưởng hoạt động tích cực trong công tác từ thiện xã hội, giúp đỡ nhiều nhà dưỡng lão, cô nhi, bệnh viện, trại cùi... Ni trưởng là Ủy viên trong Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam (từ năm 1981 đến năm 1987). Ni trưởng viên tịch vào ngày 16-4-1987. Chánh điện được bài trí tôn nghiêm. Tịnh xá được trùng tu năm 1970. Tịnh xá đã được Bộ Văn hoá công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.


CHÙA PHÁP HOA



Chùa tọa lạc tại số 229/24B đường Thích Quảng Đức, quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa do Hòa thượng Đạo Thanh, sanh quán tại Quảng Nam, khai sáng năm Mậu Thìn (1928). Ngài đã trùng tu chùa vào năm 1932. Do hạnh nguyên trồng rau, bốc thuốc cứu dân độ thế của ngài nên được người đời tới lui đông đảo. Ngài viên tịch năm 1962. 
Thượng tọa Như Niệm kế vị trụ trì đã trùng tu lần thứ hai vào năm 1965, xây tháp Đa Bảo cao 32m vào năm 1990 và đại trùng tu ngôi chánh điện vào 2 năm 1993-1994 với qui mô hiện đại. Chánh điện được bài trí tôn nghiêm, chùa có nhiều pho tượng Phật, Bồ-tát cổ. 

Từ năm 1989, chùa đã mở phòng khám từ thiện Tuệ Tĩnh đường. Hiện nay, chùa đặt văn phòng Ban điều hành hệ thống Tuệ Tĩnh đường Phật giáo thành phố và văn phòng Ban đại diện Phật giáo quận Phú Nhuận.



 



03 Tháng Chín, 2006, 06:55:10 PM
Reply #57
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 339
  • Điểm bài viết: 4
  • Nothing is impossible....Try the best....
CHÙA PHÁP HỘI



Chùa tọa lạc ở số 702/105 đường Điện Biên Phủ, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa do Hòa thượng Đạt Bình, dòng Thiên Thai Giáo quán tông, tổ chức xây dựng vào năm 1945. Chùa được trùng tu năm 1960. Thượng tọa trụ trì Thích Tắc Huệ đã tổ chức trùng tu những năm gần đây. 
Chùa nguyên là Phật học đường của Giáo hội Tăng già Việt Nam (năm 1954) và văn phòng Ban đại diện Phật giáo quận 10. Chánh điện được bài trí tôn nghiêm, ở đây tôn trí nhiều pho tượng điêu khắc gỗ nổi tiếng do nghệ nhân Nguyễn Đức Thống tạo tác vào những năm 1960, có thể xem là đỉnh cao của nghệ thuật tạc tượng gỗ ở thành phố, đó là: tượng đức Phật Di-đà, tượng Phật Thích-ca đản sanh, tượng Bồ-tát Quán Thế Âm, tượng Bồ-tát Đại Thế Chí, tượng Bồ-tát Địa Tạng, tượng Hộ Pháp và tượng Già Lam.


CHÙA PHÁP QUANG



Chùa tọa lạc ở số 71 đường Liên tỉnh số 5, quận 8, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa do Hòa thượng Thích Đạt Hảo sáng lập vào năm 1945. Ngài thuộc Phật giáo Bắc tông, dòng Thiên Thai Giáo quán tông, là thành viên của Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Chùa được Hòa thượng tổ chức đại trùng tu vào năm 1966, xây cất bằng vật liệu kiên cố. Trước sân có đài Quan Âm. Chánh điện được bài trí tôn nghiêm. Chính giữa thờ tượng đức Phật Thích-ca, bên phải (ngoài nhìn vào) thờ tượng đức Phật Dược Sư, bên trái thờ tượng Bồ-tát Quan Thế Âm. Từ năm 1991, Hòa thượng Đạt Hảo đã giao cho đệ tử là Ni sư Thích nữ Tắc Thinh trụ trì. Ni sư đã tổ chức trùng tu nhiều đợt. Đặc biệt chùa đã tổ chức nhà dưỡng lão, nuôi nấng 20 cụ bà không có thân thích từ năm 1992 đến nay. Chùa hiện đặt văn phòng Ban đại diện Phật giáo quận 8.


CHÙA PHẬT BẢO




Chùa tọa lạc ở số 57 đường Lạc Long Quân, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa xây dựng vào năm 1965. Vị trụ trì đầu tiên là Hòa thượng Giới Nghiêm. Hòa thượng quê quán Thừa Thiên - Huế, xuất gia tại chùa Bãng Lãng, Huế vào năm 1930. Năm 1944, ngài tu học ở Campuchia, học đạo với Hòa thượng Chuon Nath, đức Vua Sãi Campuchia, và du học ở Thái Lan, Miến Điện. Hòa thượng đã được bầu làm Tăng Thống Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam từ năm 1964 đến năm 1971 và năm 1979. Từ năm 1981 đến lúc viên tịch (1984), ngài là thành viên Hội đồng Chứng minh và Phó chủ tịch Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Tháp Phật Bảo được xây dựng ở sân chùa vào năm 1985, cao 11,55m, thờ xá-lợi Phật tầng trên cao, tầng giữa thờ xá-lợi các vị cao tăng của hệ phái và tầng dưới thờ hài cốt của Phật tử. Thượng tọa Thích Chánh Niệm trụ trì đã tổ chức trùng tu ngôi chùa nhiều lần những năm gần đây.


CHÙA PHẬT ĐÀ

Người có công kế vị và đẩy mạnh sinh hoạt tu học chùa Phật Đà hưng thịnh trong những năm cuối cùng của thế kỷ thứ 20 là TT Thích Minh Hiền, ủy viên Ban Hoằng pháp (HP) Trung Ương. Thầy về đây trụ trì vào đầu tháng 12.1980, cũng là dịp ngôi Tam bảo này trùng tu lần thứ hai dưới sự cố vấn của H.T Ngộ ChânTử, Viện chủ chùa Hoằng Pháp (Hóc Môn).
Giai đoạn 1980-1991, vì quyết tâm tu học cho sáng đạo nên Thầy Minh Hiền hạn chế tiếp xúc với mọi người để có thời gian chuyên tu nhiều hơn. Vào năm 1989, được sự tín nhiệm của Ban HP Thành hội và Ban HP TU - Thầy bắt đầu sự nghiệp hoằng pháp Tổ sư Thiền tại trường hạ các quận huyện và các tỉnh : Tây Ninh, Tiền Giang, Bến Tre, Sóc Trăng, Cà Mau. Từ đó đến nay công tác của thầy vẫn đều đặn, nhất là ở huyện Củ Chi, Đạo tràng chuyên tu Tổ sư Thiền luôn phát triển với nhiều tín hiệu lạc quan.

Năm 1998, được sự quan tâm giúp đở của các cấp Giáo hội, chính quyền địa phương, cùng tinh thần hoan hỷ phát tâm của Phật tử xa gần, vì thế lần đại trùng tu ngôi Tam bảo lần thứ 3 được thành tựu viên măn với kinh phí là 750 triệu đồng, diện tích 250m2 gồm chánh điện, Thiền đường và 4 căn phòng chư Tăng.  Hiện nay lịch sinh hoạt tu học Tổ sư Thiền hàng tháng được tổ chức từ ngày 21- 27 âl. Vào mỗi tối mùng 1, Thầy trụ trì có buổi thuyết giảng giáo lý để hướng dẫn Phật tử tu học.  Tóm lại, từ khi chùa Phật Đà thành lập vào nam 1962 do cụ Lê Đình Nguyên, Phật tử địa phương chủ trương vận động mọi người ủng hộ xây dựng. Đến năm 1963, TT Thích Thông Lỉễu trụ trì (hiện đang ở Nhật). Năm 1970, được sự cúng dường của cụ Trần Văn Thoại, chùa trùng tu lần thứ 2 với vật liệu nhẹ. Vào thời điểm đó, Thầy Tâm Tịnh trụ trì. Trải qua những biến thiên của cuộc sống, ngôi Tam bảo Phật Đà giờ đây đã uy nghi hoàn chỉnh với sự hộ trì của 13 vị Tăng. 


CHÙA PHẬT BỬU



Chùa tọa lạc ở số 80A đường Cao Thắng, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa do Hòa thượng Thích Minh Trực khai sáng vào năm 1948. Chùa là ngôi Tổ đình của phái Thiền Tịnh đạo tràng (Phật giáo Bắc tông). Chùa được trùng tu năm 1968. Chánh điện ở lầu 1 được bài trí tôn nghiêm. Chùa có pho tượng Phật bằng đá xanh cao 0,90m, ngang gối 0,46m. Trụ trì chùa từ năm 1976 đến nay là Thượng tọa Thích Tịnh Hạnh, đã tổ chức trùng tu chùa nhiều lần, xây tháp chuông cao 20m vào 2 năm 1994-1995; tầng trên treo quả đại hồng chung nặng 1 tấn, đúc tại Huế. Chùa hiện đặt văn phòng Ban đại diện Phật giáo quận 3.

03 Tháng Chín, 2006, 06:59:16 PM
Reply #58
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 339
  • Điểm bài viết: 4
  • Nothing is impossible....Try the best....
CHÙA PHỔ ĐÀ



Chùa tọa lạc tại số 26/1 đường Trần Quí Cáp, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa do ngài Từ Hạnh xây dựng vào năm 1965. Đến năm 1977, ngài về trụ trì chùa Quan Thế Âm (Phú Nhuận) và bàn giao chùa cho Ni sư Thích nữ Như Ngọc. Ni sư đã tổ chức trùng tu ngôi chùa, làm nơi tu học cho khoảng 40 vị ni. Chùa là điểm trường hạ ni của Phật giáo quận Bình Thạnh liên tục từ năm 1989 đến nay. Chùa hiện đặt văn phòng Ban đại diện Phật giáo quận Bình Thạnh


CHÙA PHỔ MINH



Chùa tọa lạc ở số 02 đường Thiên Hộ Dương, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa được xây dựng từ năm 1934, là nơi trụ xứ của cố Hòa thượng Thích Bửu Chơn, đã trụ trì chùa từ năm 1960 đến năm 1979 thì viên tịch. 
Hòa thượng quê ở Đồng Tháp, thuở thiếu thời tu học ở Campuchia. Ngài là một học giả, thông thạo nhiều ngoại ngữ, là vị Giáo phẩm Việt Nam tham gia nhiều hoạt động Phật sự quốc tế. Năm 1960, ngài được bầu làm Phó Chủ tịch Hội đồng Phật giáo thế giới trong kỳ Đại hội lần thứ 5 tại Thái Lan; năm 1962, ngài đắc cử Tăng thống Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam. 

Ngài đã phiên dịch và trước tác khoảng 20 tác phẩm kinh sách. Bảo tháp Xá-lợi của ngài được xây ở sân chùa năm 1981, cao 12m. Thượng tọa trụ trì Thích Thiện Tâm đã tổ chức trùng tu chùa năm 1981. Chánh điện được bài trí đơn giản, tôn nghiêm.


CHÙA PHỒ QUANG



Chùa Phổ Quang tọa lạc ở số 64/3 đường Phổ Quang, phường 2, quận Tân Bình. Nằm gần cuối con đường nhỏ, gắn liền với những thăng trầm của lịch sử, đây là địa điểm thu hút nhiều du khách đến tham quan. Cảnh quan nơi đây rất đẹp và thanh tịnh.

Giữa nhịp sống náo nhiệt thường ngày của thành phố, chùa Phổ Quang tựa như một chốn bồng lai, đượm vẻ huyền diệu, đem lại không khí tịch liêu đến nhẹ lòng cho bất cứ ai ngay khi vừa đặt chân đến. 

Chùa Phổ Quang do hòa thượng Nguyễn Viết Tạo (pháp danh Thanh Cảnh) khởi công xây dựng từ năm 1952 với kiến trúc ban đầu còn khá đơn sơ. Theo lời kể của hòa thượng Thích Như Niệm - trụ trì chùa hiện nay, vào năm 1960 chùa được xây dựng lại với nhiều nét kiến trúc mới do kiến trúc sư Nguyễn Ngọc Bản thiết kế. Năm 1999, chùa Phổ Quang được giao cho Thành hội Phật giáo TPHCM quản lý dưới sự trụ trì của hòa thượng Thích Như Niệm. Trải qua nhiều thăng trầm, chùa Phổ Quang vẫn giữ nguyên nét đẹp nên thơ ban đầu. Những mái ngói chùa cong cong dưới tia nắng chiều hòa cùng gió lộng tạo nên cảnh quan êm đềm, thoát tục. Khuôn viên chùa hiện nay rộng hơn sáu ngàn mét vuông với những hàng cây rợp bóng mát trước sân chùa, chánh điện.

Trước chùa là tam quan với lầu chuông mái ngói và Đại hồng chung nặng 1,2 tấn được đúc năm 1962. Bước qua cổng, du khách sẽ thấy hai dãy nhà Đông, Tây nằm yên bình tự bao đời. Lối vào chánh điện rợp xanh những hàng cây. Chánh điện được bài trí rất trang nghiêm, ở giữa là tượng Phật Di đà to lớn, uy nghi, cao gần 7m, đường kính rộng hơn năm mét do nhà điêu khắc Phúc Điền khắc họa; hai bên là bàn thờ mười bức Thập Điện bằng gỗ có từ năm 1950, mỗi bức cao 0,64m. Bao xung quanh bờ tường phía trong chánh điện còn có các bức tranh tường khổ lớn miêu tả những sự tích liên quan đến giáo lý nhà Phật. Chánh điện rộng, mát nhưng vẫn không kém phần uy nghi. Quần thể kiến trúc ở chùa Phổ Quang khá độc đáo với nét đặc trưng của các ngôi chùa cổ miền Bắc.

Một trong những đặc điểm khiến chùa Phổ Quang trở thành nơi được nhiều du khách yêu thích tìm đến chính là nét thanh bình, yên ả khó tìm thấy giữa lòng thành phố đông đúc người, xe. Cánh cổng chùa xưa cũ như đã đứng đó tự bao giờ, những mái ngói cong vênh, rợp trời cây lá xanh ngắt trong khuôn viên sân chùa. Đứng ở đây vào bất cứ thời điểm nào trong ngày cũng có thể nghe được tiếng chim kêu ríu rít, mọi âu lo phiền muộn cùng những bon chen tất bật gác bỏ lại bên ngoài. Nét đẹp ở chùa Phổ Quang hài hòa, gắn liền với cảnh vật xung quanh. Có lẽ vì thế mà hàng năm chùa Phổ Quang chào đón rất nhiều du khách tìm đến chiêm bái, vãn cảnh, thả mình vào không gian thoáng đãng. 
 

CHÙA PHỤNG SƠN



Chùa thường được gọi là chùa Gò, tọa lạc ở số 1408 đường 3 tháng 2, quận 11, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa được Thiền sư Liễu Thông tạo lập vào đầu thế kỷ XIX. Đến năm 1904, Thiền sư Tuệ Minh cho xây cất lại. Nhiều tượng thờ ở chùa do nhóm thợ Sa Đéc tạo tác vào những năm đầu thế kỷ XX. 
Chùa được đại trùng tu vào năm 1960 và sửa chữa nhỏ những năm gần đây. Chánh điện được bài trí tôn nghiêm. Chùa có khoảng 40 pho tượng thờ. Có nhiều pho tượng quí như bộ Di-đà Tam Tôn, bộ Ngũ Hiền thượng kỳ thú, pho tượng Phật bằng đá, tượng Tiêu Diện... Khu đất của chùa là một di tích khảo cổ học. 

Tài liệu của Bảo tàng thành phố cho biết vào các năm 1988 và 1991, các nhà khảo cổ học đã tìm được những mặt người bằng đất nung, đồ gốm... thuộc văn hóa Ôởc Eo. Ơở đây cũng đã tìm thấy một tượng Phật bằng đồng theo phong cách Thái Lan. Chùa đã được Bộ Văn hoá công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.


CHÙA PHƯỚC HẢI



Chùa tọa lạc ở số 73 đường Mai Thị Lựu, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa có nhiều tên gọi: chùa Ngọc Hoàng, điện Ngọc Hoàng, chùa ĐaKao. Tên chùa Phước Hải được đổi vào năm 1982. Chùa do Lão sư Lưu Đạo Nguyên tạo dựng vào năm 1900. Đến nay, chùa đã trải qua 6 đời trụ trì, trụ trì hiện nay là Hòa thượng Thích Vĩnh Khương. Chánh điện thờ tượng Ngọc Hoàng ngự trên bệ cao, hầu hai bên có Nam Tào, Bắc Đẩu và các Thiên Thần. Tượng Ngọc Hoàng được làm bằng giấy bồi, bên ngoài sơn thếp vàng, kỹ thuật tinh xảo. Tiền điện và tầng lầu thờ chư Phật, Bồ-tát. Ngày lễ lớn hàng năm ở chùa là ngày vía Trời, tức vía Ngọc Hoàng Thượng Đế vào mồng 9 tháng giêng (âm lịch) và ngày vía Đất vào mồng 8 tháng giêng (âm lịch).


03 Tháng Chín, 2006, 07:03:28 PM
Reply #59
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 339
  • Điểm bài viết: 4
  • Nothing is impossible....Try the best....
CHÙA PHƯỚC HOÀ



Chùa tọa lạc ở số 491/14/5 đường Nguyễn Đình Chiểu, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa có từ lâu. Từ năm 1951 đến 1958, chùa là nơi đặt trụ sở của Hội Phật học Nam Việt. Nhân ngày đại hội của hội 24-2-1952, lá cờ Phật giáo đầu tiên ở miền Nam được treo tại chùa. Kiến trúc hiện nay được xây dựng vào năm 1958. Ni sư trụ trì Thích nữ Tịnh Bích đã tổ chức nhiều đợt trùng tu, xây dựng ngôi chùa khang trang, yên tĩnh ở khu đất nhỏ, đông dân cư. Chánh điện được bài trí tôn nghiêm, chùa có 3 pho tượng bằng gỗ nổi tiếng: tượng đức Phật Thích-ca, nổi bật là tấm phù điêu sau tượng có dạng một lá bồ-đề lớn, cao 2,50m, mô tả cuộc đời đức Phật, cùng tượng Quan Âm Thiên thủ Thiên nhãn và tượng Bồ-tát Địa Tạng, là những tác phẩm nghệ thuật đặc sắc của thế kỷ XX do nghệ nhân Nguyễn Đức Thống tạo tác từ năm 1960 đến năm 1962.


CHÙA PHƯỚC TƯỜNG



Chùa tọa lạc ở số 13/32 ấp Tăng Phú 1, xã Tăng Nhơn Phú, huyện Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa được Thiền sư Linh Quang - Phật Chiếu khai sáng vào năm 1741 ở gần chợ Tăng Nhơn Phú. Đến năm 1834, chùa được dời về địa điểm hiện nay. Hòa thượng Thích Bửu Ngọc đã trùng tu chùa nhiều lần những năm gần đây. Chánh điện được bài trí tôn nghiêm. Chùa có khoảng 40 pho tượng thờ. Tượng Hộ Pháp bằng gỗ thếp vàng được ngài Diệu Minh tạc vào giữa thế kỷ XIX. Bao lam tại điện Phật được chạm khắc tinh xảo. Tam quan chùa được xây năm 1989. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia


CHÙA QUÁN THẾ ÂM



Chùa tọa lạc ở số 90 đường Thích Quảng Đức, quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh. Theo tư liệu của chùa cho biết, chùa do một sĩ quan Pháp cùng nhiều binh lính Pháp Việt kiến tạo vào năm 1920, từ một sự mầu nhiệm cứu nạn trên biển. Lúc bấy giờ người ta gọi chùa là chùa Bạch Lô hay Mạch Lô. 
Năm 1959, Hòa thượng Quảng Đức đến trụ trì ở chùa, ngài đã tổ chức đại trùng tu ngôi chùa những năm 1960-1961. Đến năm 1963, ngài đã vị pháp thiêu thân tại Saigon. Thượng tọa Thông Bửu tiếp nối trụ trì đến năm 1966, đã tổ chức đại trùng tu theo kiểu kiến trúc hiện đại bằng vật liệu kiên cố. 

Thượng tọa đang tiếp tục cho tôn tạo, mở rộng ngôi chùa từ năm 1993 đến nay. Năm 1993, khánh thành tháp "Lửa Từ Bi" cao 28m, năm 1994 an vị bảo tượng Bồ-tát Quan Thế Âm 11 mặt, bằng đá hồng hoa cương, cao 3,20m, nặng 5 tấn tại động An Lạc Sơn. Chùa đang xây cất lớn ngôi chánh điện. 

Chùa là ngôi thứ 31, nơi di tích cuối cùng của Bồ-tát Quảng Đức


CHÙA QUẢNG HƯƠNG GIÀ LAM



Tu viện tọa lạc tại số 498/11 đường Lê Quang Định, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh. Tu viện do Hòa thượng Thích Trí Thủ sáng lập vào năm 1960, là nơi tu học của các học tăng cấp đại học. 
Chùa ban đầu có tên là Giải Hạnh Già Lam, đến năm 1964 được đổi tên là Quảng Hương Già Lam. Quảng Hương là tên một học tăng đã vị pháp thiêu thân vào năm 1963 ở Saigon. 

Công chúng nay vẫn thường gọi là chùa Già Lam. Hòa thượng Trí Thủ sinh quán ở Quảng Trị, xuất gia thọ giáo với Thiền sư Viên Thành tại chùa Tra Am (Huế). Ngài là giảng sư danh tiếng của Phật giáo miền Trung và miền Nam và là người lãnh đạo Phật giáo Việt Nam trong nhiều năm, là người tiên phong trong việc vận động thống nhất Phật giáo cả nước. Qua đại hội thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam, ngày 07-11-1981 tại Hà Nội, ngài được bầu làm Chủ tịch Hội đồng Trị sự Trung ương, nhiệm kỳ I. Ngài viên tịch ngày 2-4-1984. Chùa được trùng tu mở rộng liên tục. Chánh điện được trùng tu 1981, điện Phật được bài trí đơn giản, tôn nghiêm. Thượng tọa trụ trì Thích Đức Chơn hiện nay đang tiếp tục trùng tu ngôi chùa.


CHÙA QUANG MINH



Chùa tọa lạc ở số 65 đường Trần Hữu Trang, quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa được xây dựng vào năm 1951. Hòa thượng trụ trì Thích Tài Quan đã trùng tu nhiều lần. Chánh điện được bài trí trang nghiêm. Chùa có nhiều pho tượng đẹp như tượng Quan Âm Thiên thủ Thiên nhãn bằng gỗ (cao 3m, ngang gối 0,85m), được tạc vào năm 1976; tượng đức Phật Di-lặc cao 0,55m, được tạc vào năm 1989; đặc biệt là pho tượng cổ Bồ-tát Tứ Không Quyến bằng gỗ sơn son thếp vàng cao 0,43m.


Chùa tọa lạc ở số 65 đường Trần Hữu Trang, quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa được xây dựng vào năm 1951. Hòa thượng trụ trì Thích Tài Quan đã trùng tu nhiều lần. Chánh điện được bài trí trang nghiêm. Chùa có nhiều pho tượng đẹp như tượng Quan Âm Thiên thủ Thiên nhãn bằng gỗ (cao 3m, ngang gối 0,85m), được tạc vào năm 1976; tượng đức Phật Di-lặc cao 0,55m, được tạc vào năm 1989; đặc biệt là pho tượng cổ Bồ-tát Tứ Không Quyến bằng gỗ sơn son thếp vàng cao 0,43m.


CHÙA TẬP PHƯỚC



Chùa tọa lạc ở số 233 đường Phan Văn Trị, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa do Thiền sư Chánh Đắc, thuộc Thiền phái Lâm Tế dòng Chúc Thánh đời thứ 37 khai sơn vào đầu thế kỷ XIX và đã qua các đời trụ trì: Hòa thượng Phước Tường (đời 38), Hòa thượng Huệ Thành (đời 39), Hòa thượng Hoằng Trí (đời 40), Hòa Thượng Hoằng Giáo (đời 41) và Đại đức Thiện Duyên (đời 42) từ năm 1993 đến nay. 
Chùa đã được đại trùng tu vào các năm 1927, 1967 và 1993. Kiến trúc và bài trí ở điện Phật ngày nay là ở lần trùng tu sau cùng do ngài Hoằng Giáo tổ chức. 

Chùa được Vua Gia Long sắc tứ vào năm 1802. Chùa có nhiều pho tượng cổ có giá trị nghệ thuật cao. Chùa là ngôi cổ tự nổi tiếng ở đất Gia Định xưa nay.