Please login or register.

Login with username, password and session length

Author Topic: Những ngôi chùa Việt Nam!!  (Read 32140 times)

01 Tháng Chín, 2006, 04:33:08 PM
Reply #30
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 339
  • Điểm bài viết: 4
  • Nothing is impossible....Try the best....
Chùa Dâu - Tổ đình của Phật giáo VN



TTO - Chùa Dâu tên chữ là Pháp Vân tự, Diêu Ứng tự hay Cổ Châu tự, thuộc xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh. 
Chùa nằm ở trung tâm của khu di tích lịch sử văn hoá tiêu biểu và phong phú bậc nhất của quê hương Kinh Bắc. Nơi đây bao gồm thành cổ Luy Lâu, đền thờ và văn mộ Sĩ Nhiếp, hệ thống chùa tháp, dấu tích đền đài, dinh thự, đường xá, bến bãi, phố chợ, hàng trăm mộ táng, lò gạch ngói, gốm cổ… làm chứng tích một thời kỳ dài hàng chục thế kỷ trước và sau Công nguyên. 

Nơi đây từng là thủ phủ của quận Giao Chỉ, sau là Giao Châu - trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, trung tâm Phật giáo cổ xưa nhất của nước ta. 

Những tài liệu, cổ vật còn lại ở chùa Dâu, đặc biệt là bản khắc “Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh”, có niên đại 1752 cùng kết quả nghiên cứu về lịch sử Phật giáo VN của các nhà sử học và Phật học đã khẳng định chùa Dâu là tổ đình của Phật giáo VN xuất hiện cách đây khoảng 1800 năm.

Vào đầu công nguyên, các tăng sĩ Ấn Độ, tiêu biểu là Khâu Đà La, đã tới vùng Dâu - tức Luy Lâu, tiến hành truyền bá đạo Phật, lập nên trung tâm Phật giáo Luy Lâu - một trung tâm Phật giáo lớn và cổ xưa nhất VN. 

Chùa tháp được xây cất nguy nga bên cạnh thành quách, đền đài, cung điện, lầu gác, bến bãi, phố chợ sầm uất của đô thị Luy Lâu, trong đó chùa Dâu là một trung tâm trong hệ thống các chùa thờ Phật và thờ tứ pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện) - một nét độc đáo trong sự kết hợp giữa Phật giáo Ấn Độ và tín ngưỡng dân gian của người Việt ở vùng Dâu. 

Chùa Dâu trở thành trung tâm của Thiền phái Tì -ni -đa -lưu -chi, nơi trụ trì của nhiều cao tăng VN, Ấn Độ và Trung Quốc đến để nghiên cứu, biên soạn, phiên dịch kinh Phật, đào tạo tăng ni. 

Thời Lý -Trần, chùa Dâu được trùng tu mở rộng với quy mô lớn mà người có công đầu là trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi. Vua quan, các cung tần mỹ nữ các triều đại thường lui tới thăm chùa, lễ Phật, cầu đảo, cầu tự. 

Lễ hội chùa Dâu hàng năm vào ngày tám tháng tư âm lịch- ngày kỷ niệm Phật mẫu Man Nương sinh hạ nữ nhi. Đây cũng là một trong những lễ hội Phật giáo lớn của vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ. 

Trải qua bao biến động lịch sử, thành lũy, đền dài, dinh thự của trung tâm Luy Lâu bị hoang phế. Nhưng chùa Dâu với tháp Hòa Phong vươn cao và hàng trăm gian chùa cổ kính vẫn tồn tại với thời gian. 

Đặc biệt, ngôi tháp Hòa Phong 3 tầng vươn cao, hệ thống tương Pháp Vân (tức bà Dâu), kim đồng ngọc nữ, tượng Mạc Đĩnh Chi, các ngai thờ, tương Thạch Quang, bia đá… là những di sản nghệ thuật quý và tiêu biểu của thời Lê. Đáng chú ý là bộ khắc ván “Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh” là nguồn sử liệu đặc bịệt quan trọng giúp cho việc nghiên cứu lịch sử Phật giáo VN.


Chùa Dâu



Chùa Pháp Vân thường được gọi là chùa Dâu, tọa lạc ở xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc, cách Hà Nội khoảng 30km. Chùa Pháp Vân cùng các chùa Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện hợp thành chùa Tứ Pháp. Ngoài thờ Phật còn thờ các nữ thần: chùa Pháp Vân thờ Bà Dâu, chùa Pháp Vũ thờ Bà Đậu, chùa Pháp Lôi thờ Bà Dàn, chùa Pháp Điện thờ Bà Tướng. Chùa được xây dựng từ đầu công nguyên ở vùng Dâu, thời thuộc Hán gọi là Luy Lâu, là một trung tâm Phật giáo Việt Nam xưa nhất. Từ cuối thế kỷ VI, Thiền sư Tì-ni-đa-lưu-chi (Vinitaruci), người Nam Âởn Độ, đã mở đạo tràng thuyết pháp tại chùa, lập nên Thiền phái đầu tiên ở Việt Nam. ởChùa đã được Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi đứng ra dựng lại với quy mô lớn vào thế kỷ XIV và được trùng tu nhiều lần ở các thế kỷ sau. Ơở tòa thượng điện, còn một số mảng chạm khắc của thời Trần, thời Lê. Chùa có tháp Hòa Phong nổi tiếng, tương truyền có 9 tầng, nay chỉ còn 3 tầng, được đại trùng tu vào năm 1737. Chùa Pháp Vân là một danh lam bậc nhất của xứ kinh Bắc xưa nay, được xem là ngôi chùa đầu tiên của Phật giáo Việt Nam. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

Ấn Tượng Chùa Dâu

Gần hai ngàn năm biến dịch với bao lần đổi thay, tu tạo có lẽ bây giờ cảnh quan chùa Dâu đã khác xưa nhiều. Nghe nói, trước đây con đường vào chùa đẹp lắm. Qua tam quan đồ sộ và bãi đất rộng nằm giữa hai dãy ao dài in bóng chiếc cầu chín nhịp có mái lợp, kiểu nhà cầu cổ ta còn thấy ở Hội An và một số nơi khác, khách bộ hành vào chùa dâng hương thờ Phật. Đây là ngôi chùa được xây dựng sớm nhất ở Việt Nam, ngay từ thế kỷ thứ II sau Công nguyên. 

Cũng như nhiều chùa chiền trên đất Việt, chùa Dâu được cất theo kiểu nội công ngoại quốc, một kiểu kiến trúc á Đông truyền thống. Bốn dãy nhà liên thông hình chữ nhật bao quanh ba ngôi chính: Tiền đường, Thiện hương và Thượng điện. Hậu đường xưa giờ không còn nữa, nhưng khách thăm chùa vẫn còn được chứng kiến bốn mươi tễ gian nhà oản hai bên tả hữu. Giữa sân chùa trải rộng là cây tháp Hòa Phong. Tháp xây bằng loại gạch cỡ lớn ngày xưa, được nung thủ công tới độ có màu sẫm già của vại sành. Thời gian đã lấy đi sáu tầng trên của tháp, nay chỉ còn ba tầng dưới nhưng vẫn uy nghi, vững chãi thế đứng ngàn năm. Dấu vết xưa nhất còn lại của ngôi chùa được khảo cổ học xác định là từ đời Trần, đợt tu bổ lớn nhất là vào năm 1313, đời vua Trần Anh Tông.

Theo nghiên cứu sử học, chùa Dâu với nhiều tên gọi: Diên ứng tự, Pháp Vân tự, Thiền Đình tự, Cổ Châu tự...có thể ra đời đồng thời với truyền thuyết Man Nương, một trong những mã khóa mở vào tầng sâu của văn hóa Kinh Bắc. Vậy nên, hợp với chùa tổ Man Nương là cả một quần thể những chùa Dâu, chùa Đậu, chùa Tướng, chùa Dàn thờ tứ pháp: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện. Là nơi giao lưu của hai luồng văn hóa Phật giáo, một từ ấn Độ sang, một từ phương Bắc xuống, nơi đây từng là nơi "kinh đô" của Phật giáo Việt Nam hơn mười thế kỷ đầu; với nhiều nhà sư nổi tiếng, với hội tắm Phật mùng tám tháng tễ hàng năm:
 

Dù ai buôn bán trăm bề
Nhớ ngày mùng tám thì về hội Dâu.

Một trong những ấn tượng khó có thể quên được ở nơi đây là những pho tượng thờ. Tượng Pháp Vân uy nghi, trầm mặc, màu đồng hun. Gương mặt đẹp với nốt ruồi to đậm giữa trán gợi liên tưởng tới những nàng vũ nữ ấn, tới quê hương Tây Trúc, nơi cội nguồn của tễ tưởng thiện căn, của đức Từ - Bi - Hỉ - Xả. Tượng Pháp Vũ với những nét thuần Việt, đức độ, cao cả. Đặc biệt hai pho tượng Kim Đồng, Ngọc Nữ đặt hai bên điện thờ chính gợi nhớ tới những cô thôn nữ của miền quê quan họ nơi này. Dáng người thắt đáy lưng ong uyển chuyển, vành khăn vấn trên đầu bình dị và mềm mại, chiếc áo tứ thân mớ ba mớ bảy với dải lụa đào thướt tha... Cha ông ta đã rất tinh tế, nhuần nhị khi đặt tượng thờ Kim Đồng, Ngọc Nữ. Về đây, ta gặp sự giao hòa đẹp đẽ giữa tễ tưởng Phật giáo chính thống, một dạng thức văn hóa tinh thần ngoại nhập, với tâm linh, tinh thần bình dân, thuần phác. Ta cũng lại thấy ở đây một minh chứng rõ nét cho quá trình tiếp biến văn hóa, sự Việt hóa những giá trị tinh thần khi nhập nội.

Về chùa Dâu, về Thuận Thành, ta như được tắm mình trong không khí cổ xưa qua dấu ấn của nhiều tầng bậc lịch sử - văn hóa. Đây, đô thành Luy Lâu xưa bên dòng Thiên Đức gợi nhớ thời oanh liệt của Hai Bà Trưng khởi nghĩa chống xâm lược Đông Hán những năm đầu thế kỷ. Đây dòng sông Dâu đã vào thơ Tố Hữu "con sông Dâu chảy về đâu, mà lơ thơ đến Luy Lâu lại dừng". Đây nữa, miền đất trù phú Keo - Dâu với tích truyện cô thôn nữ hái dâu nết na, xinh đẹp trở thành Nhiếp chính ỷ Lan tài giỏi, trông coi việc nước, giúp vua đánh giặc. Còn kia là Bút Tháp với tượng Phật Bà nghìn mắt, nghìn tay nổi tiếng; là làng tranh Đông Hồ, nơi tâm hồn dân gian dẫu hoàn cảnh nào vẫn luôn mỉm cười trên sắc vàng giấy điệp. Cạnh đó, dòng sông Đuống "ngày xưa cát trắng phẳng lỳ" giờ vẫn bình thản trôi như đã từng trôi qua những bến bờ lịch sử. Và từ chùa Dâu, ta có thể rẽ ngang thăm núi Thiên Thai hay về bên kia sông Đuống dâng hương các vị vua đời Lý tại đền Đô.

Lịch sử đã từng khẳng định vị trí của chùa Dâu trong đời sống văn hóa, tâm linh dân tộc. Ngày nay, chùa Dâu đang được Nhà nước và Giáo Hội Phật giáo Việt Nam quan tâm trùng tu, tôn tạo để xứng đáng với tên gọi"trung tâm của Phật giáo Việt Nam"nhiều thế kỷ.


01 Tháng Chín, 2006, 04:36:39 PM
Reply #31
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 339
  • Điểm bài viết: 4
  • Nothing is impossible....Try the best....
CHÙA PHÚC NGHIÊM



Chùa thường gọi là chùa Tổ, tọa lạc ở xã Hà Mãn, huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc. Chùa được xây dựng từ lâu đời. Chùa thờ Phật và thờ Bà Man Nương. Theo trích truyện Man Nương trong sách Chùa Việt Nam (Hà Nội, 1993) thì vào thời Sĩ Nhiếp, có một cô gái tên là Man Nương đã có thai khi nhà sư Khâu Đà La vô tình bước qua mình. Đứa bé gái mà Man Nương sinh ra đã được nhà sư đặt vào thân một cây đa. Cây đa về sau bị đổ, trôi xuống sông và dân làng đã lấy gỗ của cây tạc thành các tượng nữ thần Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện đem vào thờ trong bốn ngôi chùa ở vùng Dâu, tức các chùa Tứ Pháp. Có hai hội lễ ở chùa. Theo sách Từ điển Hội lễ Việt Nam (Hà Nội, 1993), ngày 17 tháng giêng, tương truyền là ngày sinh của Man Nương, là hội thi bánh dày nổi tiếng ở làng Dâu. Ngày mồng 8 tháng 4 (âm lịch) là hội lễ tắm tượng Phật Bà Tứ Pháp ở chùa Dâu. Trước và sau lễ, đều có nghi thức rước tượng các Bà về chùa Tổ bái Phật Mẫu Man Nương. Chùa đã được trùng tu nhiều lần.


CHÙA THIÊN TÂM (CHÙA TIÊU)


Chùa thường gọi là chùa Tiêu Sơn tọa lạc ở sườn núi Tiêu, thuộc xã Tương Giang, huyện Tiên Sơn, tỉnh Hà Bắc. õChùa được dựng từ thời Lý. Chùa là nơi tu thiền và giảng pháp của nhiều cao tăng thời Lý, như Thiền sư Vạn Hạnh. Ơở chùa có tấm bia đá cao 0,68m ngang 0,40m khắc bốn chữ: "Lý Gia Linh Thạch". Sách Từ điển di tích văn hóa Việt Nam (Hà Nội, 1993) giới thiệu chùa này xưa là nơi trụ trì của Thiền sư Vạn Hạnh đồng thời cũng là nơi sinh của Vua Lý Thái Tổ. Sử xưa cho biết ở Viện Cảm Tuyền chùa Thiên Tâm có con chó đẻ con sắc trắng đốm đen thành hình hai chữ "Thiên tử" điều đó ứng với việc Vua Lý Thái Tổ sinh năm Giáp Tuất rồi lên làm vua. Chùa được trùng tu nhiều lần. Cổng chùa hiện nay được xây năm 1986. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.



Chùa Tiêu

Dọc quốc lộ 1 A đường Hà Nội - Lạng Sơn, ai đã từng đi đâu, về đâu, nhưng chưa lấy một lần đến vãng cảnh chùa Tiêu thì thật là đáng tiếc. Trở ngại về địa lý hay eo hẹp về thời gian, nhưng chỉ cần mạnh dạn một chút, quyết tâm vượt qua các ngại ngùng trong lòng là có thể đến được chùa Tiêu.

Chùa Tiêu có tên là chùa Thiên Tâm còn gọi là Tiêu Sơn tự, chùa nằm trên lưng chừng núi Tiêu. Nay thuộc xã Tương Giang - huyện Tiên Sơn - tỉnh Bắc Ninh. Chùa Tiêu là một danh thắng nổi tiếng và cũng là - trung tâm Phật giáo cổ xưa của Việt Nam.

Những công trình còn lại của chùa Thiên Tâm (chùa Tiêu) hiện nay là sản phẩm kiến trúc nghệ thuật thời Lê - Nguyễn. Chùa Tiêu hầu như không bị ảnh hưởng bởi các biến cố lịch sử qua nhiều thời kỳ và chỉ cách thủ đô Hà Nội khoảng 20 km mà thôi.

Từ xưa, ở đây, núi bắc, sông nam sơn thủy hữu tình, con sông Tiêu Tương chảy qua bây giờ đã biến thành đồng ruộng, làng mạc trù phú. Dấu ấn một thời chỉ còn lại là một cái hồ sen dưới chân núi trước cửa chùa.

Theo bước chân du khách về chốn này, dưới bóng cây xanh mát rượi, ta bước lên từng bậc gạch. Ta đang lần tìm đến nơi phát tích của một triều đại phát triển toàn diện và một quốc gia phong kiến độc lập: triều nhà Lý.

Trước mắt ta, trên sân lữ khách dừng chân, cũng là đường dẫn đến chùa chính nhà thờ tổ, hiển hiện một nhà bia mới dựng. Thành kính thắp nén hương, trân trọng xem câu đối trên cột nhà bia viết bằng chữ Hán:

"Lý gia linh tích tồn bi kỷ

Tiêu Lĩnh danh kha đắc sử truyền"

(Dẫu thiêng nhà Lý còn bia tạc

Danh thắng non tiên có sử truyền).

Mặt chính của tấm bia khắc chữ Hán Nôm:

"Lý gia linh thạch". Mặt sau bia quay vào phía núi khắc chữ Hán nhỏ. Theo ông Nguyễn Công Nha người làng Đình Bảng tạm dịch như sau:

"Chùa Thiên Tâm có Lý Vạn Hạnh (là người trụ trì tăng viện người làng Cổ Pháp (nay thuộc làng Đình Bảng - huyện Tiên Sơn - tỉnh Bắc Ninh).

Đặc biệt, sườn đông bên tả ngạn sông Tiêu Tương có bà Phạm Mẫu người ở Hoa Lâm, lên chùa đèn nhang gặp người thần ngẫu nhiên có thai, rồi sinh ra Lý Công Uẩn tại tam quan chùa ứng Tâm hương cổ pháp còn gọi là chùa Dân thuộc xã Đình Bảng ngày nay...".

Trong Đại Việt sử ký toàn thễ có ghi việc này:

"Thái tổ Hoàng đế họ Lý, tên húy là Công Uẩn người châu Cổ Pháp. Mẹ họ Phạm đi chơi chùa Tiêu Sơn cùng với người thần... Có chửa sinh vua ngày 12/2 năm Giáp Tuất, niên hiệu thái bình năm thứ năm (974) thời Đinh. Mới ba tuổi... Sư Khánh Văn nhận làm con nuôi, bé đã thông minh vẻ người tuấn tú khác thường, lúc nhỏ đi học nhà sư Vạn Hạnh thấy khen rằng "đứa bé này không phải người thễờng, sau này lớn lên ắt có thể giải nguy cơ, gỡ rối làm bực minh chủ trong thiên hạ".

Nói về chùa Tiêu là nói đến Thiền sư Vạn Hạnh. Bởi lẽ chùa Tiêu là chốn tu thiền giảng đạo của nhiều bậc cao tăng trong đó sư Vạn Hạnh là người trụ trì.

Thiền sư Vạn Hạnh là một con người tài năng: về đạo thì "linh thông tam pháp cửu lễu" còn binh pháp thì thuộc lòng binh pháp của Tôn Tử "Vũ".

Do có công lao cố vấn cho triều tiền Lê và Lý, Thiền sư Vạn Hạnh được suy tôn là quốc sư, hiện nay trong chùa Tiêu còn bài vị thờ sư tổ:

"Lý triều tể tướng Thiền sư Vạn Hạnh vị".

Sư thần Ngô Sĩ Liên thừa nhận: "Mắt trông thấy Lý Thái Tổ biết là người khác thường, đến khi thấy sét đánh thành vết chữ thì đoán ngay thời thế thay đổi, như thế là có trí thức vượt người thường".

Nghe các cụ Đình Bảng kể rằng: Thiền sư Vạn Hạnh sinh ra trong một gia đình đại thế tộc, nhiều đời làm quan. Gặp thời loạn thập nhị sứ quân không biết đâu chính, đâu tà đành thành tâm tu luyện đợi thời cơ xoay chuyển thế cuộc. SưLý Khánh Văn, sư Lý Vạn Hạnh là hai anh em ruột. Lý Khánh Văn có công nuôi dưỡng. Lý Vạn Hạnh có công dạy dỗ đào tạo và huấn luyện người "lãnh đạo" quốc gia. Họ đều là những cao tăng có kiến thức uyên bác. Năm 1018 Thiền sư Vạn Hạnh không ốm đau bệnh tật gì mà mất, người thời ấy đã truyền lại rằng ngài đã hóa thân.

Vào thập kỷ 90, nhân dân xã Tương Giang, nhà chùa Tiêu Sơn và những người hảo tâm đã đóng góp công sức xây dựng tượng Thiền sư Vạn Hạnh trong tưã thế thiền sừng sững giữa đỉnh Tiêu Sơn.

Cảnh đấy, người đây đã tạo cảnh quan xứ này thêm trang trọng và bề thế.

Đến thăm chùa Tiêu, đọc lại 10 điều tâm niệm của người xưa, để tưởng nhớ suy ngẫm, học hỏi những gì tốt đẹp về đạo đức lẽ sống, cách làm người, âu cũng là để cho lòng ta thanh thản, cho trí óc ta trong sáng hơn. Đồng thời ta cũng biết thêm một di tích lịch sử và nghệ thuật được Nhà nước công nhận.


CHÙA VĨNH NGHIÊM



Chùa thường gọi là chùa Đức La, tọa lạc ở thôn Quốc Khánh, xã Trí Yên, huyện Yên Dũng, tỉnh Hà Bắc. Chùa được dựng vào thời Trần, là một trung tâm lớn của Phật giáo Việt Nam. Chùa từng là nơi thuyết pháp của Trúc Lâm Tam Tổ (Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang) và là nơi đào tạo, định chức danh các tăng sĩ thời Trần. Ca dao cổ có câu: Ai qua Yên Tử, Quỳnh Lâm, Vĩnh Nghiêm chưa tới, thiền tâm chưa đành. Kiến trúc chùa ngày nay khá bề thế với diện tích khoảng 10.000 mét vuông gồm tam quan, chùa Hộ, nhà thiêu hương, chùa Phật, nhà tổ, gác chuông hai tầng mái và nhà trai. Sách Từ điển di tích văn hóa Việt Nam (Hà Nội, 1993) cho biết chùa có từ thời Lý, được xây dựng qui mô, sau bị binh hỏa đổ nát. Địch Vũ Hầu Nguyễn Thọ Cường hưng công tu sửa chùa vào năm 1606. Đến đầu thời Nguyễn, chùa lại được đại trùng tu: tượng Phật, tượng 3 vị tổ Trúc Lâm và nhiều bức chạm khắc có giá trị nghệ thuật được sáng tác trong lần trùng tu này. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.



01 Tháng Chín, 2006, 04:38:14 PM
Reply #32
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 339
  • Điểm bài viết: 4
  • Nothing is impossible....Try the best....
Hà nội

CHÙA CHIÊU THIỀN



Chùa thường được gọi là chùa Láng, tọa lạc ở đường Láng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, cách trung tâm thủ đô khoảng 7km về phía Tây. Chùa được khởi dựng vào đời Vua Lý Anh Tông (1138-1175). Chùa thờ Phật và thờ Thiền sư Từ Đạo Hạnh (?-1117), thuộc Thiền phái Tì-ni-da-lưu-chi. Ngày 7 tháng 3 âm lịch là ngày sinh của Thiền sư đã trở thành ngày hội chùa Láng: (Trở về hội Láng, trở ra hội Thầy. Chùa đã trải qua nhiều lần trùng tu. Kiến trúc hiện nay là do lần trùng tu vào năm 1666 và giữa thế kỷ XIX với vẻ cổ kính vẫn còn giữ được của một danh lam từ tám thế kỷ trước ở kinh thành Thăng Long. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.
Ngày xửa ngày xưa có ngôi chùa Láng

Tác giả bài viết này-René le Clère- là hội viên danh dự Hội Nhà văn Canada, cộng tác viên của Trung tâm nghiên cứu và hợp tác quốc tế Canada (CECI), đã đến Việt Nam dạy tiếng Pháp tại một trường cao đẳng ở Hà Nội. Theo yêu cầu của tác giả, chúng tôi giới thiệu với bạn đọc một cách nhìn của người nước ngoài đối với kiến trúc cổ và sinh hoạt tín ngưỡng ở nước ta .

Thỉnh thoảng để tránh cơn buồn ngủ buổi trưa, tôi đi lang thang đến tận chùa Láng, ở quận Đồng Đa (phía Tây Hà Nội). Giống như những ngôi chùa khác, đây là nơi để tĩnh tâm. Tín đồ phật tử tìm đến sự bình an cho tâm hồn, để cuốn hút vào việc làm từ thiện, tìm sự thanh thản, quên mình. Những người trẻ tuổi đến đây để học tập trong yên tĩnh và cầu Phật độ trì cho được điểm cao trong kỳ thi. Sinh viên trường Mỹ thuật tập vẽ ký họa.

Vào ngày rằm và mồng một hằng tháng, tín đồ Phật giáo thường đến đây. Khách du lịch cũng đến. Đôi khi ngay cả trong bóng đêm dày đặc, những người trẻ tuổi luyện tập võ thuật ở sân chùa. 

Ở Việt Nam, hầu như mỗi khu dân cư đều có những chùa thờ Phật riêng. Việc xây dựng một ngôi chùa phải đáp ứng một số điều kiện. Địa điểm phải linh thiêng, hơi cao để tránh bị ngập lụt. Thông thường quanh chùa không có dân cư sống tập trung. Chọn địa điểm cũng phải phù hợp với yêu cầu phong thuỷ, đây là khoa chọn vị trí cho một thành phố, một ngôi mộ hay một nhà ở, phải phù hợp với quy luật của vũ trụ. Khái niệm về kiến trúc và cảnh quan thiên nhiên phải được kết hợp với các tiêu chuẩn thẩm mỹ, thiên văn đã được định sẵn. 

Trong khuôn viên chùa thường có một con suối hoặc một cái ao rộng hay hẹp. Có cả một cái giếng. Đôi khi có một cái ao hình bán nguyệt để tạo nên một sự thăng bằng nào đó giữa âm dương. Nên nhớ rằng trục xây dựng của chùa nói chung thường hướng về phía Nam hay phía Tây, Nam là hướng của tâm linh, Tây là hướng của an tĩnh (...).

Một chút lịch sử địa phương Chùa Láng nằm trên đất xã Láng Thượng, cách trung tâm Hà Nội khoảng 7km. Tuy gọi là chùa Láng, nhưng tên chữ là Chiêu Thiên tự, hay còn gọi là chùa Cả. Quanh khu vực đó ta thấy có Viện Quan hệ quốc tế (IRI), Trường Đại học Luật, Trường Đại học Ngoại thương, Đại học Giao thông gần sát ngay Cầu Giấy. 

Tất nhiên trong chùa có tượng Phật, nhưng đặc biệt là tượng Từ Đạo Hạnh (một trong những nhà sư nổi tiếng thời Lý, sống ở Láng, nhưng tịch ở chùa Thầy) và cả tượng vua Lý Thần Tông. Theo một số tác giả, chùa này được xây dựng từ thế kỷ XII, dưới triều Lý Nhân Tông, trên mảnh đất vốn của gia đình cha mẹ Từ Đạo Hạnh. Một số tác giả khác phản bác ý kiến này mà nói rằng ngôi nhà nơi sinh ra nhà sư là chùa Nền hiện nay (ở phía Tây Bắc chùa Láng, cách 800 bước, nghĩa là đi bộ hết 10 phút), được xây dựng trên nền nhà cũ của cha mẹ nhà sư nổi tiếng đó 

Theo một số người khác, ngày 7 tháng 3 âm lịch năm 1996, chùa kỷ niệm 900 năm tỏa sáng. Như vậy chùa được xây năm 1096. Lại có người viết rằng chùa xây dưới thời Lý Anh Tông (1135 - 1175) . Người khác còn viết rằng những kiến trúc đầu tiên được dựng lên dưới triều Lý (1010 - 1225) mà không nói cụ thể hơn 
Toàn bộ chùa ngày nay được xây lại năm 1666 , đã được trùng tu lại nhiều lần, nhất là vào giữa thế kỷ XIX và đặc biệt năm 1989, nhưng vẫn giữ lại kết cấu xưa.

Trong những bia của chùa, đáng chú ý nhất là tấm bia lập năm 1656. Về mặt nghệ thuật và kiến trúc, đáng lưu ý là hai chiếc cổng đồ sộ và ngôi đình bát giác. 

Hãy đi theo người hướng dẫn 

Phải đi tìm những mái nhà ẩn dưới các tán cây cổ thụ rậm rạp. Khuôn viên của chùa là một hòn đảo yên tĩnh, biệt lập, xa cách cái ồn ào chốn thị thành. Không có nhà gác với lầu cao và lan can chạm trổ, không có những nóc nhọn thếp vàng chọc thẳng lên trời. Ngôi chùa này hòa lẫn vào cảnh quan, bao quanh có những ruộng rau, là nơi được coi là đẹp nhất của thủ đô Việt Nam.

Nếu khách hành hương hay tham quan đến từ đại lộ vành đai Láng chạy dọc sông Tô Lịch (xưa kia buôn bán tấp nập, trên bến dưới thuyền), thì phải đi qua cổng chùa đồ sộ, tiếc rằng đang bị đổ nát. Một con đường đất, hai bên có những ngôi nhà nhỏ, dẫn đến ngôi chùa cách khoảng 350 bước chân người lớn.

Người tinh mắt sẽ nhận thấy bên vệ đường hai tấm bia nhỏ bằng xi măng khuất trong bụi cây và hoa lá, trước khi đến cổng chùa. Tấm bia ghi bằng chữ Hán, nhắc nhở người qua đường phải ngả nón, xuống ngựa, biểu thị sự tôn kính đối với thần Phật! Hai tấm bia đó nằm bên phải và bên trái cổng chính vào chùa, tấm thứ nhất cách 100 bước về phía sông Tô Lịch, tấm thứ hai cách 80 bước về phía Viện Quan hệ quốc tế. 

Hai con voi đắp bằng vôi vữa nằm phủ phục bên phải và bên trái cổng tam quan, có mái che, yên bình chờ đợi nhà vua trở lại cầu nguyện trong chùa (...). 

Vườn, gác chuông, tượng... 

Tận phía sau chùa, có một mảnh vườn với hai gác chuông thấp. Một treo chuông, một treo khánh. Thỉnh thoảng các nhà tu hành đọc kinh và điểm bằng những tiếng chuông, đánh bằng vồ bằng gỗ.Trong một cái chậu đá giống như chiếc hòm thế kỷ XII của Pháp (đáng tiếc là ngày nay đã được làm lại bằng xi măng), người ta đốt tiền giấy, đốt những lá sớ viết chữ Nho, để cúng cho những người đã trở về với tổ tiên. 

Rồi còn có nhà thờ tổ, bên trong có tượng thờ Mẫu (Mẫu thiên, Mẫu địa, Mẫu thủy), với nhiều pho tượng đẹp. Ở đây có rất nhiều bát hương. Sự hiện diện của Mẫu, một tín ngưỡng dân gian Việt Nam, được các nhà sư chấp nhận đưa vào chùa để không xâm phạm đến truyền thống tín ngưỡng bản địa. 

Cuối cùng có một ngôi nhà cất giữ nhiều gươm giáo và 13 tấm bia khắc chữ Nho. Đấy là những bia gì? Những bài văn bia có nói đến sự kiện gì quan trọng không? Không ai biết chính xác. Bên ngoài có một hồ nước nhỏ, hình tròn, có tường thấp bao quanh. Mặt hồ nổi lên những bông sen nở rộ. 

Phía sau chùa, du khách còn phát hiện thêm nhiều loại cây (như tre, chuối, cây hoa đạị..), đấy là khu vườn tháp mộ, với mười ngôi mộ các vị cao tăng, mà tiếc thay nhiều bài minh trên mộ đã bị xoá mờ. Nếu không làm gì bây giờ thì ngày mai ai còn biết được những vị cao tăng đó là ai và công tích các vị đó như thế nào.

Vào những ngày rằm và mồng một, tín đồ và du khách, gồm cả trẻ già, đến chùa rất đông để cầu nguyện, cúng lễ. Bên trong điện thờ, một không khí thích hợp với việc tĩnh tọa, các tín đồ đi từ ban thờ này đến ban thờ khác, cắm những nén hương (bao giờ cũng là số lẻ) lên những bát hương nhỏ. Không có tiếng ồn ào, sự yên tĩnh trang nghiêm luôn được tôn trọng. Những ngày hội lễ, nhất là vào những ngày đầu năm âm lịch, cạnh cổng tam quan người ta bày bán hàng vàng mã, giấy bạc giả đô la Mỹ hay tiền địa phương, để cúng cho tổ tiên đã khuất. Đấy là tục lệ. 

Khách tham quan có lẽ sẽ ngạc nhiên, chùa Láng không phải là nơi tu hành của các vị tăng. Chỉ có các ni sư. Tất cả có 5 vị do một sư bà đứng đầu. 

Buổi tối, khi thành phố Hà Nội đã yên nghỉ trong không khí nóng bức, từ bên ngoài chùa, người ta nghe thấy tiếng đọc kinh nhịp nhàng, thỉnh thoảng điểm những tiếng mõ tiếng chuông...

Đi thăm chùa Láng đem lại cho ta một niềm mê say. Các phật tử và du khách sẽ ngạc nhiên vì bố cục hài hòa và cân đối của tổng thể các dãy nhà, đem lại cho nó một vẻ đẹp kiến trúc vừa rộng lớn nhưng đơn sơ. Sự thanh thản của nơi đây chỉ có thể làm nảy sinh những tình cảm tốt lành. 


01 Tháng Chín, 2006, 04:41:18 PM
Reply #33
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 339
  • Điểm bài viết: 4
  • Nothing is impossible....Try the best....
CHÙA ĐẠI BI (KIM LIÊN)



Chùa thường gọi là chùa Kim Liên, tọa lạc ở xã Quảng An, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Chùa được dựng trên một dãi đất ven hồ Tây về phía Bắc, sát chân đê Yên Phụ. Xưa kia, đây nguyên là chùa Đống Long dựng từ thời Trần trên nền cũ của cung Từ Hoa có từ thời Lý.
Năm 1639, chùa được đại trùng tu và mang tên chùa Đại Bi. Năm 1771, Chúa Trịnh Sâm cho dời chùa Bảo Lâm về tu bổ chùa Đại Bi và đổi tên là chùa Kim Liên. Vào năm 1792, chùa lại được đại trùng tu, mang dấu ấn kiến trúc nghệ thuật thời Tây Sơn. Từ năm 1983 đến 1987, chùa được trùng tu, vẫn giữ kiến trúc ngôi chùa cổ hơn 200 năm trước. 


CHÙA ĐẠI DƯƠNG SÙNG PHÚC



Chùa thường được gọi là chùa Sủi hay chùa Phú Thị, tọa lạc ở xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội. Chùa được dựng vào thời Lý. Ngôi chùa hiện nay còn giữ được nhiều di tích của thế kỷ XVII, XVIII, XIX như bộ tượng Tam Thế Phật (tượng gỗ phủ sơn, cao 1,15m), các mảng chạm rồng ở vì kèo, khánh đá, bia đá, đại hồng chung... Ở chùa có điện thờ Bà Ỷ Lan Nguyên phi. Chùa tọa lạc ở xã Phú Thị là quê hương của nhiều nhà khoa bảng, nhiều nhà văn thơ nổi tiếng như : Nguyễn Huy Cận (1728- 1780), Nguyễn Huy Lượng (thế kỷ XVIII), Cao Bá Quát (1808-1854)... Chùa có một không gian thoáng đãng hòa hợp với kiến trúc cổ tạo sự đa dạng trong kiến trúc Phật giáo Việt Nam. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.


Chùa kiến trúc theo kiểu chữ "Tam" với 3 nếp nhà: chùa Thượng, chùa Trung, chùa Hạ xếp song song. Điện Phật được bài trí trang nghiêm. Đặc biệt là cổng tam quan, một kiến trúc bằng gỗ độc đáo với những mảng chạm khắc tinh xảo. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận làDi tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

CHÙA ĐẠI PHÚC



Chùa thường được gọi là chùa Ngọc Trục, tọa lạc ở thôn Ngọc Trục, xã Đại Mỗ, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội, cách trung tâm thành phố 17km về phía Tây. 
Chùa được dựng từ thời Hậu Lê và được trùng tu nhiều lần. Lần trùng tu mới nhất vào năm 1947 do Sư cụ Thích nữ Đàm Nhâm tổ chức. Ngôi chùa ngày nay vẫn còn mang một giá trị lớn về kiến trúc nghệ thuật. Từ ngoài vào, chùa có các công trình sau: cổng tam quan (còn gọi là cổng ngũ quan) xây hai tầng; nhà vuông (còn gọi là tam quan) được xây giữa cổng ngũ quan và chùa chính; ngôi chùa chính xây kiểu chữ "Đinh" gồm tiền đường và hậu cung. Chánh điện được bài trí trang nghiêm. Có 50 pho tượng tròn, trong đó có những pho tượng nổi bật là: tượng đức Phật Di-lặc (cao 0,60m), tượng Tuyết Sơn (cao 0,56m, thế kỷ XIX), toà Cửu Long (thế kỷ XVIII) ,tượng Bồ-tát Chuẩn đề... 

Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hoá quốc gia.





01 Tháng Chín, 2006, 04:43:22 PM
Reply #34
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 339
  • Điểm bài viết: 4
  • Nothing is impossible....Try the best....
CHÙA MỘT CỘT (CHÙA DIÊN HỰU)

Chùa thường được gọi là chùa Một Cột, tọa lạc ở đường Chùa Một Cột, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. * Chùa được Vua Lý Thái Tông (1028-1054) cho xây dựng vào năm 1049, do tích nhà vua chiêm bao thấy Phật Quan Âm ngồi trên tòa sen, dắt vua lên tòa. Sư Thiền Tuệ khuyên vua xây chùa, dựng cột đá giữa ao, đặt tòa sen của Phật trên cột như đã thấy trong chiêm bao. Ngôi chùa đuọc xây lại vào thời Trần (năm 1249) và đã trùng tu nhiều lần. Chùa hiện nay gồm một ngôi chùa nhỏ và đài Liên Hoa được xây dựng vào năm 1955. Gắn liền với lịch sử thủ đô, chùa Một Cột là biểu tượng của Hà Nội ngàn năm văn vật. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.



Chùa Một Cột ở Hà Nội hiện nay là tên quen thuộc của Liên Hoa Ðài dựng trong khuôn viên của một quần thể kiến trúc chùa, gồm chính điện thờ Tam Bảo, nhà Tổ, nhà khách v.v. được gọi chung là chùa Diên Hựu (lấy tên đầu của Liên Hoa Ðài). 

Chùa Một cột nổi danh vì kiến trúc độc đáo là một lầu gỗ hình vuông đặt trên một cột đá trồng giữa một hồ nước. Lầu được củng cố bằng một hệ thống con sơn sóc nách bằng gỗ. Tất cả tượng hình cho một bông sen vươn lên khỏi mặt nước, do đó mà có tên là Liên Hoa Ðài. 

Liên Hoa Ðài theo sử biên niên đã được dựng vào thời Lý năm 1049. Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi: 

«Mùa đông tháng 10 âm lịch, dựng chùa Diên Hựu ở vườn Tây cấm (bên phía Tây cấm thành Thăng Long). Trước đấy vua Lý Thái Tông (1028-1054) chiêm bao thấy Ðức Phật Quan Âm ngồi trên tòa sen, dắt vua lên tòa. Khi vua tỉnh dậy, vua đem việc đó nói với bầy tôi, có người cho là điềm không lành. Có nhà sư Thiền Tuệ khuyên vua làm chùa, dựng cột đá ở giữa hồ, làm tòa sen của Phật Quan Âm đặt trên cột trụ như đã thấy trong mộng. Cho các nhà sư đi vòng lượn chung quanh tụng kinh, cầu cho vua trường thọ«. Vì thế gọi là chùa Diên Hựu (kéo dài tuổi thọ). 

Năm 1105 vua Lý Nhân Tông lại cho sửa sang, tô điểm Liên Hoa Ðài, đào thêm hồ, xây tháp báu ở phía trước. Văn bia tháp Sùng thiện Diên Linh trên núi Ðọi (tỉnh Hà Nam) có đoạn ghi tả chùa Diên Hựu (Một Cột) ở Thăng Long như sau: 

«Ðảo ao thơm Linh Chiểu, giữa ao trồi lên một cột đá, trên cột đá hoa sen nghìn cánh xòe ra. Trên hoa dựng một ngôi đền đỏ xẫm, trong đền đặt một pho tượng Quan Âm sắc vàng. Vòng quanh ao có dẫy hành lang trang trí bằng những hình vẽ bao bọc. Ngoài hành lang lại đào ao Bích Trì, mỗi phía đều bắc cầu cong để đi lại. - sân trước mặt, hai bên tả hữu xây tháp báu lưu ly...« 

Hai tháp báu này xây bằng gạch nung đất trắng, một cạnh gạch có chạm rồng (kiểu rồng thời Lý) ngoài cũng phủ men trắng mà khoảng năm 1954 đã được tìm thấy trong khuôn viên chùa Diên Hựu. Thiền sư Huyền Quang, đệ tam tổ phái Trúc Lâm thời Trần có làm thơ vịnh cảnh Diên Hựu Tự dưới trăng thu, có đề cập đến những ngọn tháp này: 

«Thượng Phương thu dạ nhất chung lan, 
Nguyệt sắc như ba phong thu đan, 
Xi vần (chi vẫn)* đảo miên phương kính lãnh, 
Tháp quang song chĩ, ngọc tiêm hàn« 
Phương trượng đêm thu vẳng tiếng chuông, 
Lá bàng đỏ xẫm ánh trăng suông, 
Gương hồ in ngược chim đầu nóc, 
Một đôi tháp ngọc nhọn đầu vươn.

Vua Lý Nhân Tông còn cho xây thêm một gác chuông bằng đá cao mấy trượng và đúc một quả chuông thật lớn định để treo lên, nhưng chuông rè, không kêu nên để bỏ ở thửa ruộng bên chùa. Ruộng trũng nhiều rùa, nên được gọi là chuông Qui điền. Chuông này sau Vương Thông nhà Minh bị Bình Ðịnh Vương vây hãm, phá đi để lấy đồng đúc khí giới (T.K.X.V). 

Vào những ngày sóc (mồng một), ngày vọng (rằm) mỗi tháng nhà vua thường đến lễ chùa và hàng năm đến ngày Phật Ðản (mồng 8 tháng tư ta) vua đều đến dự lễ tắm Phật. Ðó là thời cực thịnh của chùa Diên Hựu. Từ đó đến nay, chùa cùng với đất nước trải qua bao cuộc thịnh xuy nhưng vẫn tồn tại và đã được tu sửa nhiều lần. 

Ý niệm xây dựng chùa Một Cột có lẽ đã phát xuất từ thời Ðinh Lê (T.K.X.) bằng chứng là ở Hoa Lư cũng còn di tích của một chùa Một Cột. 

Còn chùa Một Cột thời Lý tức Diên Hựu Tự là «Hoa sen nghìn cánh nở trên cột đá« trên dựng điện Phật, mặc dù «hoa sen nghìn cánh« có là mỹ tự đi nữa thì kiến trúc xưa cũng to lớn huy hoàng hơn bây giờ. Một số nhà khảo cứu đã đưa những con số chiều cao, chiều rộng to lớn gấp bội hiện nay nhưng không biết căn cứ vào đâu. Những hình ảnh xưa nhất của Liên Hoa Ðài, được ghi lại là những tấm hình chụp về cuối thế kỷ XIX (khoảng trên một trăm năm trước đây) cho ta thấy chùa Một Cột bấy giờ trông tương tự như bây giờ, nhưng tình trạng bắt đầu hư nát và quang cảnh xung quanh khá hoang tàn. 

Ðến năm 1923 chùa Một Cột được trường Viễn Ðông Bác Cổ xây cất lại và xây bao lan bọc quanh 4 phía hồ. Nhưng cuộc trùng tu này vì thiếu kinh nghiệm nên kết quả không được mỹ mãn lắm. Kích thước thì nhỏ hẹp đi, mái cũng thấp hơn, quang cảnh có gọn gàng phong quang hơn nhưng đường nét cũng khô khan hơn. Nhưng từ đây trở đi nhờ phương tiện truyền thông, sách vở, báo chí hình ảnh, chùa Một Cột được phổ biến, thậm chí nha bưu điện Ðông Dương cũng dã mấy lần phát hành tem chùa, nên càng ngày kiến trúc này càng được biết đến, không những ở Việt Nam mà cả trên thế giới nữa. Ðến cuối năm 1954 khi thi hành hiệp định Genève, quân Pháp sửa soạn rút lui khỏi Hà Nội và miền Bắc Việt Nam thì có kẻ lạ mặt đặt thuốc nổ phá hủy chùa Một Cột ngày 11-9-1954 (rằm tháng tám ta). Liên Hoa Ðài bị phá hủy từ mặt sàn trở lên vì chất nổ được dấu ở dưới bát hương. Tuy nhiên, pho tượng Quan Âm nơi đây, vẫn ngồi y nguyên ở gần ngay đấy, chỉ bị rời mấy cánh tay gỗ chắp. Sau khi tiếp quản Hà Nội, được mấy tháng thì chính quyền tiếp quản quyết định phục hồi lại chùa và ủy nhiệm cho chuyên viên Sở Bảo Tồn Cổ Tích Nguyễn Bá Lăng, nghiên cứu họa đồ và điều khiển công trường. Họa đồ đã được nghiên cứu căn cứ theo một ảnh chụp cũ khoảng cuối thế kỷ XIX của trường Viễn Ðông Bác Cổ. Vì là ảnh chụp lập diện (géométral) nên những kích thước cũ, chiều rộng, chiều cao, độ dốc mái kể cả chi tiết tầu đao, lan can được phục nguyên một cách chính xác. Cột đá đường kính 1m20 và bộ con sơn sóc nách bên dưới vẫn được giữ nguyên, còn bên trên bình đồ vuông nay được phục nguyên mỗi mặt rộng 4m20, chiều cao từ sàn đến diềm mái là 2m20. Chi tiết trang trí trên nóc mái là đôi rồng ngoảnh cổ lại chầu mặt nguyệt, là đặc điểm trang trí từ thời cuối Lê sang Nguyễn được đắp lại như cũ. Bốn góc mái đao được làm cong hớt lên hơn trước một ít. Những hình đắp trang trí trên bốn góc đao trong hình chụp không rõ vì đã hư mòn thì được đắp lại theo hình đầu rồng lá lật như kiểu cuối thời Lê, còn thấy khá phổ thông ở các kiểu kiến trúc cổ tại miền Bắc. Vách gỗ bao quanh cung thờ được làm theo kỹ thuật cổ truyền là vách nong đố gỗ. Lan can được làm con tiện và cái «vỉ ruồi« trang trí ở hai đầu hồi thì được chạm theo kiểu chép ở nhà thủy tạ chùa Tam Sơn, huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh. Bên trong, phía sau bên trên bàn thờ Ðức Quan Thế Âm, được trang trí bằng một giải ván thượng diệp chạm lưỡng long chầu nguyệt dập theo một kiểu chạm gỗ ở đình làng Ðình Bảng (Bắc Ninh). Cũng ở đây bên trên giáp mái treo tấm bảng chữ Hán «Liên Hoa Ðài«. Tòa Liên Hoa đài này đã được dập kiểu để dựng trong vườn của một bảo tàng viện tại Varsovia (Ba Lan) nhưng theo tỷ lệ thu nhỏ ơ và thay thế cầu thang gạch bằng cầu thang gỗ. Làm như vậy có lý hơn vì rất có thể là trước kia người ta leo lên Liên Hoa đài bằng một thang gỗ, rồi đến cuối thế kỷ trước Kinh lược Hoàng Cao Khải trong đợt tu bổ cổ tích mới cho xây bằng gạch như hiện nay: Liên Hoa đài nằm chếch phía sau, bên phía Tây Bắc chính điện thờ tam bảo trong khu vườn riêng của chùa, thì nay vườn này được mở rộng thành công viên của thành phố, mé bên kia khu vực chùa Diên Hựu thì khoảng thập niên 80 dùng để xây tòa nhà Bảo tàng Hồ Chí Minh đồ sộ cao lớn ở gần xát ngay bên, không biết tôn trọng di sản lịch sử văn hóa xưa. Tuy nhiên khách vào thăm chùa Một Cột vẫn đông đảo vì ai cũng nhận thức là chùa Một Cột đích thực là kiến trúc văn hóa Việt Nam. 

Lư Công Uẩn cũng như các vua Lư kế tiếp, đă xây dựng một quốc gia tiến bộ, khác hẳn Đinh, Lê ở trước, mà các triều đại sau cũng khó sánh bằng. Thời đại nhà Lư là thời đại toàn thịnh của Phật giáo mà cũng là thời đại có ư thức dân tộc rất cao, tinh thần quốc gia hùng mạnh trong lịch sử độc lập của nước Việt. Chùa Một Cột đă xuất hiện một cách tự hào, độc đáo trong cái tinh thần đó.Theo truyền thuyết chùa Một Cột h́nh thành từ một giấc mộng của vua Lư Thái Tông: "Tháng Hai, mùa xuân năm Kỷ Sửu (1049) đổi niên hiệu là Sung Hưng Đại Bảo năm đầu. Trước đó vua nằm mộng thấy Phật Quan Âm ngồi trên đài hoa sen, dẫn vua lên đài, khi tỉnh dậy, vua nói chuyện lại với triều thần, có người cho là điềm xấu, nhưng thiền sư Thiền Tuệ th́ khuyên vua nên xây chùa, dựng cột đá giữa hồ, xây đài hoa sen có tượng Phật Quan Âm ở trên, đúng như h́nh ảnh đă thấy trong mộng. Các nhà sư chạy đàn xung quanh, tụng kinh cầu sống lâu và đặt tên là chùa Diên Hựu". (Lư Kỷ - Toàn thư).

Như vậy th́ chùa Một Cột lấy nguồn cảm hứng từ giấc mộng đài sen với Phật Quan Âm. Cảm hứng từ mộng là một loại tâm lư nghệ thuật của các dân tộc phương Đông, và h́nh dáng chùa đă bao năm nhiều ư nghĩa nghệ thuật tôn giáo. Từ thời nhà Đinh đă dựng cột bia đá gọi là cột "nhất trụ" để cầu tuổi thọ, cầu cho vận nước cường thịnh lâu dài. Cái ư niệm đó tượng trưng bằng h́nh "Một Cột" cũng mang một ư nghĩa với nguyên lư sinh thành của địa mẫu, hay nguồn sống vũ trụ. Đến đời nhà Lư th́ cái cột "Nhất Trụ" ấy lại bao trùm nhiều ư nghĩa hơn nữa khi vua Lư Thái Tông (1028-1054) đă biến h́nh "Nhất Trụ" thành h́nh hoa sen, bằng cách cho xây trên đỉnh cột một cái điện nhỏ bằng gỗ lợp ngói mái cong để trở thành chùa Diên Hựu (tức Một Cột). Chùa có h́nh dáng một hoa sen, nếu nh́n từ xa th́ đúng đó là một hoa sen lớn, mọc lên từ hồ nước, chiếc cột là cọng sen. H́nh ảnh hoa sen đă có trong tinh thần dân tộc từ thời nhà Đinh: Đinh Bộ Lĩnh ở cạnh đền Sơn Thần, ngoài cửa có đám sen núi, có dấu chữ thiên tử. Mẹ Lê Hoàn có mang nằm mộng thấy trong bụng sinh hoa sen. Năm 1058, tháng 6, niên hiệu Long Thị Thái B́nh thứ 5, vua Lư Thánh Tông cho xây điện Linh Quang, bên trái dựng điện Kiến Lễ, bên phải dựng điện Sùng Nghi, phía trước điện dựng lầu gác chuông Một Cột sáu cạnh h́nh hoa sen. Trong quan niệm của người quân tử th́ hoa sen luôn mang một ư nghĩa đẹp, tượng trưng cho những ǵ cao quư nhất trên đời. Nơi nào có hoa sen là nơi đó có Phật ngự trị. Nơi nào có dấu sen là nơi đó có dấu vết hiền nhân. Nơi nào có hồ sen phải là nơi thanh tịnh. Hoa sen đă được người b́nh dân tôn quư, ví với những người có tâm hồn thanh cao, sống nơi bụi trần mà không bị danh lợi ô uế, ràng buộc, cám dỗ:

"Trong đầm ǵ đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng
Nhị vàng, bông trắng, lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn".

Cũng v́ hoa sen mang một ư nghĩa như thế, nên hễ người ta nói tới hoa sen là nói tới Phật, sen là chỗ Phật ngự, toà sen là toà Phật. V́ vậy mà vua Lư Thái Tông đă mộng thấy hoa sen với Phật Quan Âm đứng trên đài sen và giấc mộng ấy đă được hiện thực bằng ngôi chùa Một Cột có h́nh dáng hoa sen với tượng Phật Bà Quan Âm được thờ trong đó.

Tín ngưỡng Phật Bà Quan Âm trong dân tộc Việt cũng là một tín ngưỡng đặc biệt, nó biểu hiện cho ḷng yêu thương vô bờ của Mẹ, hoà đồng với tín ngưỡng sùng bái Nữ Thần trong tư tưởng b́nh dân Việt Nam. Người b́nh dân Việt Nam với tâm hồn chất phác, chân thật, luôn luôn có khuynh hướng nguyện cầu một đấng từ bi cứu khổ, cứu nạn như Bồ Tát Quan Âm hay là Nữ Thần Địa Mẫu của họ. Họ nương tựa vào đó như 

một nơi an lành, như đứa trẻ cảm thấy được yên ổn trong đôi tay của mẹ... Họ luôn luôn yên tâm khi tin tưởng có Quan Âm Bồ Tát ở bên cạnh che chở, độ trì́.

Xem thế, chùa Một Cột quả là một tác phẩm nghệ thuật tân kỳ, thể hiện trọn vẹn cái tâm linh độc đáo của dân tộc. Với chiếc cột độc nhất dựng sừng sững giữa hồ biểu hiện cho tín ngưỡng về nguồn sống vũ trụ, về Âm Dương hoà hợp sáng tạo... và với tượng Phật Bà Quan Âm tượng trưng cho t́nh mẹ, cho Thánh mẫu từ bi luôn cứu độ chúng sinh, chùa Một Cột quả là gói ghém hoàn toàn cái tinh thần tín ngưỡng đặc biệt của Việt Nam thời Lư. Tinh thần đó đă dung hoà với các tư tưởng vừa trí thức, vừa b́nh dân, nhất là nó thể hiện một cái tinh thần hợp sáng nhưng độc lập của quốc gia./.
 

02 Tháng Chín, 2006, 08:49:55 PM
Reply #35
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 339
  • Điểm bài viết: 4
  • Nothing is impossible....Try the best....
CHÙA HỒNG PHÚC (HÒA NHAI)



Chùa thường gọi là chùa Hòe Nhai, Hòa Giai, tọa lạc ở số 19 phố Hàng Than, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Chùa được dựng vào thời Lý, đã được trùng tu nhiều lần vào các năm 1687, 1899 và 1952. Ơở sân chùa có một số bia đá, trong đó có tấm bia dựng năm 1703 ghi vị trí chùa ở tại Hòe Nhai, Đông Bộ Đầu (nơi quân dân ta chiến thắng quân Nguyên vào năm 1258 ở gần chùa). Chánh điện được bài trí trang nghiêm. Chùa có nhiều tượng cổ như tòa Cửu Long (tượng đức Phật đản sinh), pho tượng kép bằng gỗ tạc một vị Phật ngồi trên lưng một vị vua nằm phục xuống, ... Chùa là tổ đình Thiền phái Tào Động của Phật giáo Miền Bắc Việt Nam. (Chùa được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia


CHÙA HƯNG KHÁNH



Chùa thường gọi là chùa Vua, tọa lạc ở phường Phố Huế, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. ?hùa Vua là tên gọi chung của cụm di tích gồm chùa Hưng Khánh và điện Thiên Đế thờ Đế Thích, mặt hướng Đông Nam, được dựng vào đời Lê. Đế Thích (Sakradevànàm Indra) theo Từ điển Phật học Hán Việt (Hà Nội, 1992 ) là vị chủ cõi trời Đao-lợi, thống lĩnh 33 vùng trời, thuộc thượng tầng cõi Trung giới, cao hơn trời Tứ Thiên Vương và thấp hơn trời Dạ-ma. Thần Đế Thích còn được truyền thuyết dân gian cho là bậc giỏi nhất trong nghệ thuật đánh cờ qua câu chuyện "Hồn Trương Ba, da hàng thịt" được lưu truyền rộng rãi. Cũng vì thế, lễ hội hàng năm của chùa vào đầu tháng giêng (các ngày 6, 7, 8 và 9 âm lịch) đều có tổ chức thi cờ ở sân trước cửa chùa. Ai đoạt giải 3 năm liền sẽ được ghi tên vào bia đá đặt tại nhà bia ở sát sân cờ. Chùa đã được Bộ Văn hoá công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia


CHÙA HUYỀN THIÊN



Chùa tọa lạc ở số 54 phố Hàng Khoai, phường Đồng Xuân, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Chùa được khởi dựng vào thời Lý. Kiến trúc được tu bổ, sửa chữa nhiều lần, định hình vào thời Nguyễn. Chánh điện được bài trí trang nghiêm. Chùa có nhiều pho tượng gỗ có gía trị nghệ thuật như tượng các vị Bồ-tát Quan Âm, Thế Chí, Văn-thù, Phổ Hiền, tượng hai vị Hộ Pháp (mỗi tượng cao 3m) v.v... Chùa có điện thờ tượng đức Huyền Thiên Trấn Vũ. Chùa là danh lam của kinh thành Thăng Long ngày xưa. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.


CHÙA KIẾN SƠ



Chùa tọa lạc ở xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội. Chùa do Thiền sư Cảm Thành dựng trước năm 820. Đến năm 820, Thiền sư Vô Ngôn Thông từ Quảng Châu, Trung Quốc sang nước ta, được Thiền sư Cảm Thành tôn làm thầy, mời ở lại trụ trì chùa Kiến Sơ. Từ đấy, chùa trở thành trung tâm của Thiền phái Vô Ngôn Thông. Ở hai dãy tả hữu Tam bảo của chùa hiện nay có thờ tượng Thiền sư Vô Ngôn Thông, tượng Lý Công Uẩn và thân mẫu của ông.... 
Đây là ngôi chùa cổ danh tiếng có từ trước thế kỷ X ở nước ta. Chính Lý Công Uẩn hay lui tới chùa nên khi lên làm vua là Lý Thái Tổ (1010-1028), nhà vua thường thỉnh Thiền sư Đa Bảo (đời thứ 5 dòng Vô Ngôn Thông) vào cung thưa hỏi yếu chỉ Thiền và vua đã xuống chiếu trùng tu chùa. Chùa lúc bấy giờ có hơn một trăm tăng đồ. 

Chùa đã được trùng tu nhiều lần. Di tích cổ còn rất ít. Chùa còn giữ chiếc khánh đá bề ngang 2,3m, cao 0,60m, dày 0,17m. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.


02 Tháng Chín, 2006, 08:53:01 PM
Reply #36
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 339
  • Điểm bài viết: 4
  • Nothing is impossible....Try the best....
CHÙA KIM SƠN



Chùa thường được gọi là chùa Kim Mã, tọa lạc ở số 223 phố Kim Mã, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Trong Từ điển di tích văn hóa Việt Nam (Hà Nội, 1993) cho biết xưa kia nơi đây là bãi tha ma, làm pháp trường xử trảm các tội nhân. Dân thôn Mã Trại dựng am Vạn Linh bằng tranh để siêu độ âm hồn. Năm 1881, am bị bão đổ, dân bản thôn dựng lại bằng gạch ngói, tô tượng Phật để thờ, thường gọi là chùa Tàu Ngựa. Năm 1898, chùa trùng tu, đổi tên là Kim Mã. Sư cô Thích nữ Đàm Tiến, trụ trì ngôi chùa hiện nay đã tổ chức nhiều lần trùng tu, tôn tạo ngôi chùa. Chánh điện được bài trí trang nghiêm. Chùa có nhiều pho tượng gỗ có giá trị nghệ thuật. Chùa đã được Bộ Văn hoá công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.


CHÙA KIM LIÊN



Nằm ở phía đông bắc hồ Tây, kề bên khách sạn Thắng Lợi và hàng loạt biệt thự hiện đại đang đua nhau mọc lên - chùa Kim Liên là ngôi chùa nổi tiếng từ xưa... Đất dựng chùa là nền cũ của cung Từ Hoa, thuộc trại tằm Tang. Từ Hoa là con gái vua Lý Thần Tông (1128 - 1138). Vua dựng cung Từ Hoa cho công chúa và các cung nữ ở đó để thấu hiểu thêm công việc đồng áng vất vả mà thấy rõ hơn giá trị ngôi tôn quí của mình. Đến đời Trần, trại Tằm Tang đổi thành phường Tích Liên. Dân làng dựng chùa Đống Long trên nền cung Từ Hoa cũ. Đến năm 1771, đời Lê Cảnh Hưng, chùa được tu sửa lớn và đổi tên là chùa Kim Liên. Năm 1792, đời vua Quang Trung, chùa được xây dụng lớn, về diện mạo cơ bản giống như hiện nay.
Tới thăm chùa Kim Liên, ta thầm cám ơn người xưa đã tạo nên một danh lam thắng cảnh đẹp lưu lại cho hậu thế. Chùa nằm trên một bán đảo nhỏ, hình đất như con rùa vàng. Ngay khi tới cổng chùa, khách thăm đã bị choáng ngợp bởi cổng tam quan độc đáo. Đây là một ngôi tam quan không giống bất cứ ngôi tam quan nào ở các chùa khác, toàn bộ kết cấu tam quan có mái che được đỡ từ các thân cột. Từ giữa các thân cột. Từ giữa các thân cột, những "con rường" vươn dài tạo nên bộ vì nóc đỡ mái. Bộ mái lợp ngói vảy cá nhiều tầng, ở giữa đột ngột vươn cao như bông sen tỏa nở trên mặt nước Tây Hồ mênh mang bốn mùa sóng phủ - một nét đẹp đặc sắc bất ngờ.

Bước qua tam quan, men theo con đường nhỏ bên phải, du khách tới đầu hồi gian tiền đường để lãng du về đất Phật. Nhìn từ bên hông chùa, các tầng mái nhấp nhô, những đầu đao cong vút tạo cảm giác như các lớp cung điện trùng điệp như cùng hiện về trong thoáng chốc, phô diễn tài nghệ kiến trúc của người xưa. Chùa hình chữ "tam" gồm ba nếp nhà song song với nhau, tường gạch bao quanh tới tận rìa mái. Ơû các đầu hồi nhà có cửa sổ tròn với những dấu hiệu "sắc sắc không không" mang đậm ý nghĩa triết lý phật giáo. Nét kiến trúc của chùa Kim Liên gợi nhớ tới chùa Tây phương nổi tiếng.

Các pho tượng Phật được bày thành hai lớp, trên cùng là bộ Tam thế, tiếp theo là tượng A-di-đà, tượng Quan Thế Âm và tượng Đại thế chỉ ở hai bên cùng Anam, Ca diếp là hai đại đệ tử của Đức Phật. Lớp dưới là Quân âm chuẩn đề, tượng Ngọc Hoàng, dưới cùng là tòa Cửu Long. Các pho tượng đều mang phong cách điêu khắc thế kỷ XVIII - XIX, chùa có tượng Uy vương Trịnh Giang, người đã cấp tiền hưng công tu tạo chùa năm Cảnh Hưng thứ 32 (1771). Chùa Kim Liên còn lưu giữ được một tấm bia cổ, nay dựng phía bên phải cổng chùa, trên bệ đá hình vuông, dù năm tháng đã làm phai mờ nhiều nét chữ nhưng còn xem được niên hiệu: Thái Hòa tam niên Âất Sửu - tức năm 1445 thời Lê Nhân Tông. Đây là tấm bia cổ nhất ở Hà Nội hiện nay.

Danh sĩ Phạm Đình Hổ đả ghi lại trong "Tang thương ngẫu lục" về cảnh đẹp chùa Kim Liên như sau: "...chùa xoay lương ra sông Nhị, hồ Tây quanh trước mắt, khói sóng man mác, trời nước một màu...", "... phía bên trái có mấy gò nổi, tháp gạch xây ở trên, khóm trúc, cội tùng phơ phất... "

Chùa Kim Liên vẫn soi bóng trên sóng nước Hồ Tây. Bông sen vàng vẫn vươn cánh trên nền nước biếc. Ai đã tới Hà Nội, với lòng ngưỡng vọng những giá trị lịch sử văn hóa truyền thống, không thể không một lần tới thăm cảnh đẹp này.


Chùa Kim Liên Trước Nguy Cơ Bị Sập

Khắp chùa Kim Liên (Quảng An, Tây Hồ, Hà Nội) bây giờ là những cột chống tạm bợ. Danh thắng nổi tiếng bên Hồ Tây này đang bị xuống cấp trầm trọng.

Nhìn bề ngoài thì chùa Kim Liên vẫn giữ nguyên được dáng vẻ đường bệ. Đây là một ngôi chùa lớn, hai tầng mái, được xem là "Bông sen vàng" của Hồ Tây. Vốn là đất cung Từ Hoa cũ của triều Lý, chùa Kim Liên được xây dựng đồ sộ như hiện nay vào thời Lê và trở thành một danh thắng nổi tiếng bên Hồ Tây được ca ngợi hết lời trong "Tang thương ngẫu lục" của cụ Phạm Đình Hổ. Các tầng mái nhấp nhô, những đầu đao cong vút tạo cảm giác như các lớp cung điện trùng điệp như cùng hiện về trong thoáng chốc...

Đấy là nét độc đáo của chùa Kim Liên, và chính nó giờ đây đã trở thành gánh nặng cho ngôi chùa: Trải qua gần 300 năm, các kết cấu gỗ vốn được làm hết sức đồ sộ, nặng nề (có thể xem là đồ sộ nhất trong các chùa ở Hà Nội hiện nay) đã xuống cấp. Và các mối ghép ở các thanh ngang đỡ bộ vì nóc khổng lồ đã dãng ra, nếu chúng khuỵu xuống thì nguy cơ kéo đổ cả ngôi chùa là cầm chắc.

Khắp chùa là những cột chống tạm bợ, và dây rợ quây lại lằng nhằng. Dán đầy ở các cột là những tờ giấy cảnh báo "nguy hiểm, không đi lối này", "Tránh xa lối này...". Ngẩng lên mái thì một thanh ngang đồ sộ đã bị mối ăn sạch sẽ chỉ còn trơ mỗi lớp vỏ rỗng hoác!

Trao đổi với chúng tôi, ông Phương - Trưởng phòng Văn hóa - Thông tin quận Tây Hồ - tỏ ra hơi e ngại việc một số nhà sư vẫn trong chùa. Ông cho biết, ngay từ năm 2002, UBND quận đã chỉ đạo cho tổ chức di dời tượng phật và các đồ thờ tự ra khỏi chùa. Cũng theo ông Phương thì "không những kết cấu gỗ bị mối mọt, mà nhìn phía ngoài một mái đao cũng đã bị sệ. Khi cả khối mái chùa lớn như thế bị sệ thì cực kỳ nguy hiểm".

Năm nay quận Tây Hồ đã lo được 60 triệu để "cứu chữa" chùa, nhưng qua khảo sát tình hình thì số tiền này chỉ như muối bỏ bể, thà đừng làm còn hơn. Các cán bộ quản lý văn hóa cũng nghĩ thế và họ đang chờ hai dự án lớn tu bổ chùa Kim Liên, một của thành phố đang chỉ đạo triển khai và một của một số tổ chức nước ngoài đang xin được tài trợ. Tuy nhiên, nước xa không cứu được lửa gần. Điều cần thiết bây giờ là phải tăng cường gia cố chùa Kim Liên bảo đảm sự an toàn cho chính các nhà sư.
(Báo Thể thao và Văn hóa)


CHÙA LIÊN PHÁI



Chùa tọa lạc ở phố Bạch Mai, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Chùa do Lân Giác Thượng sĩ thuộc Thiền phái Lâm Tế lập vào năm 1726, đời Vua Lê Dụ Tông. Thượng sĩ chính là Phò mã Trịnh Thập, con trai Tần Quang Vương, cháu nội Chúa Trịnh Căn, lấy con gái thứ tư Vua Lê Hy Tông. Một lần ông cho đào đất ở gò cao sau nhà thì thấy một cái ngó sen. Ông cho là mình có duyên với đạo Phật nên đã biến phủ đệ thành chùa và xuống tóc xuất gia. Chùa ban đầu mang tên Liên Tông, đến đời Tự Đức, đổi thành chùa Liên Phái để tránh húy. Chùa có hai ngôi tháp lớn. Phía trước là tháp Diệu Quang cao 10 tầng, hình lục lăng, xây vào khoảng thế kỷ XIX, đặt xá lợi Tổ Diệu Quang cùng 5 nhà sư khác và ở vườn tháp sau chùa có tháp Cứu Sinh, là tháp mộ của Lân Giác Thượng sĩ được xây vào khoảng năm 1733. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.
 
Chùa Liên Phái hay còn gọi là chùa Liên Tôn, nằm trong ngõ Liên Phái, phố Bạch Mai (quận Hai Bà Trưng, Hà Nội). Một đặc điểm nổi bật so với các chùa ở Hà Nội là chùa Liên Phái có niên đại hơn 250 tuổi, hơn nữa, trong chùa còn có một ngôi tháp Cửu Sinh cũng có niên đại hơn 250 tuổi. Đây là ngôi tháp cổ nhất và có lai lịch rõ ràng nhất trong khu vực nội thành ở Hà Nội.

Sự tích về sư tổ ngôi tháp Cửu Sinh được kể lại như sau: Trịnh Thập sinh năm 1696, là con trai Tấn Quang Vương Trịnh Bính. Trịnh Thập lấy con gái thứ tễ vua Lê Hy Tông (1676-1705) được lập phủ riêng ở phường Hồng Mai (sau đổi tên là Bạch Mai). Một lần, Trịnh Thập cho đào đất ở gò cao sau nhà để xây bể cạn thì thấy trong lòng đất có một cái ngó sen (không thấy nói là bằng chất liệu gì). Trịnh Thập cho đó là dấu hiệu của Phật và tin rằng mình có duyên với đạo Phật. Ông bèn biến phủ đệ của mình thành chùa gọi là chùa Liên Tông, gọt tóc đi tu đồng thời trở thành vị tổ thứ nhất của chùa này. Trịnh Thập mất năm 37 tuổi (1733) hài cốt được táng trong ngôi tháp xây ở giữa gò, nơi dạo trước đã đào được ngó sen.

Chùa được xây dựng vào khoảng thế kỷ thứ 18, lúc mới xây dựng chùa có tên là Liên Hoa. Năm 1733 đổi tên là chùa Liên Tông. Đến năm 1840, vì phải kiêng tên húy vua Thiệu Trị, cho nên đổi tên chùa là chùa Liên Phái như ngày hôm nay.

Theo như tấm bia hiện còn ở trong chùa khắc vào năm Tự Đức thứ 10 (1857) thì chùa được xây dựng vào năm Bảo Thái thứ 7, tức năm 1726. Chùa đã được tu bổ nhiều lần, đợt tu bổ lớn nhất là vào năm ất Mão 1855, đã tu bổ lại nhà tổ, nhà tầng, hành lang phải và trái, tô tượng Phật, v.v. hết một nghìn quan tiền công đức. Công việc này làm trong sáu năm trời mới hoàn thành. Đến năm Kỷ Tî 1869 lại làm thêm gác chuông, xây dựng tường bao quanh với quy mô rộng lớn. Hai bên cổng của chùa Liên Phái là hai hồ nước rộng. Ngay trước cổng là ngôi tháp Diệu Quang hình lục lăng cao mười tầng. Tiếp đến là nhà bia, có 34 tấm bia ghi lại sự tích của chùa và các lần tu bổ, trên tấm bia còn ghi tên những người đóng góp công đức tu bổ và xây dựng lại chùa. Qua sân rộng là nhà bái đường và khu tam bảo, khu thờ phật. Từ tam bảo đi qua một sân nhỏ là đến nhà tổ. Sau chùa là khu vườn tháp được xây dựng trên một gò đất cao, có chín ngôi tháp xây thành ba hàng. Hàng thứ nhất có hai ngôi tháp. Hàng thứ hai ở giữa có năm ngôi tháp gồm những ngôi tháp cao, trong đó có ngôi tháp Cửu Sinh xây bằng đá. Hàng thứ ba có hai ngôi tháp. Ngoài ra, trong chùa còn có một ngọn tháp cao chín tầng kiến trúc đẹp xây dựng vào khoảng năm 1890.

Trong chùa Liên Phái, ngoài tượng Phật còn có tượng Thượng Sĩ Lân Giác, một quả chuông có chữ "Liên Tông tục diện" (nghĩa là Liên Tông kế tục sáng ngời) nét chữ thời Lê Trung Hưng. Theo như tấm bia dựng năm Tự Đức thứ 7 thì các đời sau của phái Liên Tông có: Sư Tổ thứ 2 là sư tổ Khai Sơn, sư Tổ thứ 3 là sư tổ Bảo Sơn, sư Tổ thứ 4 là sư Tổ Từ Phong...

Quy mô hiện nay của chùa hầu như không thay đổi gì mấy so với lần sửa chữa giữa thế kỷ 19. Chùa Liên Phái với tháp Cửu Sinh đã làm cho chùa có giá trị rất lớn. Chùa đã được Bộ Văn hóa-Thông tin xếp hạng là Di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1962.





02 Tháng Chín, 2006, 08:57:03 PM
Reply #37
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 339
  • Điểm bài viết: 4
  • Nothing is impossible....Try the best....
CHÙA LINH QUANG ( CHÙA BÀ ĐÁ)



Chùa thường được gọi là chùa Bà Đá, tọa lạc ở số 03 phố Nhà Thờ, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Chùa được dựng vào thời Hậu Lê. Tương truyền Chúa Trịnh cho đào đất đắp thành, một người dân làng thấy một pho tượng Bà bằng đá liền dựng một miếu nhỏ để thờ. Về sau dân làng xây miếu thành chùa, nên ngôi chùa có tên "Bà Đá". Tượng đá ở chùa đã mất. Ngôi chùa hiện nay có hệ thống tượng ở điện Phật là những tác phẩm điêu khắc quí của thế kỷ XIX, chùa có hai đại hồng chung, một cái đúc năm 1823, một cái đúc năm 1881 và một khánh đúc năm 1842. Chùa là ngôi tổ đình của Thiền phái Lâm Tế ở miền Bắc, là nơi đặt văn phòng Ban Trị sự Phật giáo thành phố Hà Nội.


CHÙA LINH TIÊN (CHÙA HỘI XÁ)



Chùa thường gọi là chùa Hội Xá, toạ lạc ở thôn Hội Xá, xã Hội Xá, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội, ở phía Nam bờ đê sông Đuống. Chùa trước đây thuộc phủ Thuận An, sau là tỉnh Bắc Ninh, đến năm 1961, mới thuộc Hà Nội. Chùa được tạo dựng từ lâu đời gắn với làng Hội Xá nằm trong địa bàn sinh tụ chính của cư dân Việt cổ thời dựng nước. Văn bia và hệ thống tượng của Phật điện cho biết chùa đã được trùng tu thế kỷ XVI, đợt tu sửa cuối cùng ghi trên bia là vào năm 1935. Chùa được xây dựng trên khu đất cao, mặt hướng Tây, gồm tiền đường và hậu cung kết cấu kiểu chữ "Đinh". Chùa có 12 tấm bia đá, trong đó 3 tấm bia có niên đại triều Lê và 9 tấm bia thuộc triều Nguyễn. Đại hồng chung có tên "Linh Tiên tự chung" đúc năm 1844. Bộ tượng Tam Thế Phật ở điện Phật có giá trị nghệ thuật cao, thuộc thế kỷ XVII-XVIII. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.


CHÙA LÝ TRIỀU QUỐC SƯ

Chùa tọa lạc ở số 50 phố Lý Quốc Sư, phường Hàng Trống, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Chùa được khởi dựng từ thời Lý. Ngày xưa là đền thờ Lý Quốc sư Nguyễn Minh Không. Đến năm 1954, Hòa thượng Thích Thanh Định về trụ trì, tu sửa ngôi đền, đổi thành chùa thờ Phật. Đại đức trụ trì hiện nay là Thích Bảo Nghiêm đã tổ chức trùng tu ngôi chùa từ năm 1992, bài trí Phật điện tôn nghiêm. Phía sau điện Phật là điện thờ Quốc sư Nguyễn Minh Không, ở đây còn có tượng ngài Từ Đạo Hạnh và tượng thân mẫu của ngài được đắp nổi trên bia đá. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.


CHÙA PHÁP VÂN (CHÙA NÀNH)



Chùa thường được gọi là chùa Nành, tọa lạc ở làng Nành, xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội. Chùa được khởi dựng vào thời Lý. Ngôi chùa hiện nay còn có nhiều di vật của thế kỷ XVII, XVIII, như chuông đồng (1653), khánh đồng (1733), 3 tấm bia đá cùng nhiều pho tượng gỗ phủ sơn rất quý như bộ tượng Tam Thế Phật (tượng cao 0,80m, tòa sen và đế cao 0,70m), tượng Tuyết Sơn (cao 0,73m), tượng Bát bộ Kim Cang (cao 1,56m), tượng Thập Điện Minh Vương (cao 1,35m), tượng Thập bát La-hán (cao 1,08m), tượng Bà Nành v.v... 
Hòa thượng Thích Mật Trọng trụ trì ngôi chùa từ năm 1958 đến nay đã tổ chức trùng tu nhiều đợt, vẫn giữ được đường nét cổ kính trong kiến trúc và điêu khắc của một danh lam ở thủ đô. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia


Chùa Nành

Nằm cách trung tâm Thành Phố Hà Nội khoảng 17 km về phía đông-bắc, chùa Nành còn có tên là chùa Pháp Vân, thuộc xã Ninh Hiệp (huyện Gia Lâm, Hà Nội). Quy mô của chùa khá lớn, bao gồm: thủy đình, tam quan, tiền đường, cầu, tam bảo, tả vu, hữu vu, nhà Tổ, điện Mẫu và khu phụ. Phía trước chùa Nành là hồ nước rộng, thoáng mát. Điều này cũng phù hợp thuyết "phong thủy". 

Tương truyền, chùa Nành được xây dựng từ thời Lý. Trải qua nhiều lần trùng tu, sửa chữa, kiến trúc trong chùa hiện nay chủ yếu mang phong cách kiến trúc thời Nguyễn. Đặc biệt, trong chùa còn lưu giữ được nhiều di vật quý như: bộ tượng Tam Thế Phật tượng Tuyết Sơn, tượng Bát bộ Kim Cang, tượng thập Điện Minh Vương, tượng Thập bát La hán,... Trong đó, bộ Tam Thế vừa có giá trị nghệ thuật cao vừa có niên đại sớm, niên đại thế kỷ 16. Trong 



chùa Nành còn lưu giữ được nhiều bia đá có niên đại từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 20. Đặc biệt, có một chuông đồng được đúc vào năm 1653, khánh đồng đúc năm 1733. Bên cạnh hệ thống tượng Phật, chùa Nành còn có tượng bà Nành - đây là dấu tích của sự du nhập Phật giáo vào Việt Nam.

Hội chùa Nành cũng là một trong những lễ hội đặc sắc ở Hà Nội hiện nay. Hội được tổ chức từ mồng 4 đến mồng 6 tháng 2 (âm lịch) hằng năm. Tại hội chùa, các trò chơi dân gian được tổ chức sôi nổi, như: bơi thuyền, thi nấu cơm, thi nâng cây phan. Cây phan là một bó khoảng 60 cây tre để nguyên cả thân và ngọn. Dân chúng tin rằng, cuộc sống ấm no của cả làng phụ thuộc nghệ thuật nâng cây phan. Vì vậy, các trai làng thường phải luyện tập nâng cây phan trước ngày lễ hội. Sau các nghi lễ là các trò chơi khác thể hiện tín ngưỡng, như cầu mưa, cầu nước, cầu phồn thực của cư dân với nền nông nghiệp lúa nước ở đồng bằng sông Hồng. Hội chùa Nành có thể so sánh với các lễ hội khác ở khắp nơi trên mọi miền đất nước, là một trong những lễ hội còn giữ được nét sinh hoạt văn hóa mang đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc.

Chùa Nành đã được Bộ Văn hóa-Thông tin xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật.




02 Tháng Chín, 2006, 09:00:33 PM
Reply #38
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 339
  • Điểm bài viết: 4
  • Nothing is impossible....Try the best....
CHÙA PHÚC KHÁNH



Chùa thường được gọi là chùa Sở, tọa lạc số H.171, tổ 1, phường Thịnh Quang, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Chùa nằm bên phải phố Tây Sơn, gần ngã tư Sở. Chùa được dựng vào thời Hậu Lê. 
Tương truyền vào thời kỳ này, chùa là cơ sở đào tạo tăng tài cho Phật giáo, sau đó gặp cơn binh hỏa bị hư hỏng hoàn toàn. Có tài liệu cho chùa nằm trong khu vực diễn ra trận đánh Đống Đa năm 1789 nên bị đổ nát, sau được nhà sư Chiếu Liên xây dựng lại với sự hổ trợ của Đô đốc Trần Văn Lễ (thời Tây Sơn) đã từng ém quân ở chùa. Ông còn cho đúc quả đại hồng chung và pho tượng Cửu Long cúng chùa. 

Chùa qua nhiều lần trùng tu, xây dựng. Năm 1950, dân làng đã góp công góp của xây dựng ngôi chùa ngày nay. Điện Phật được bài trí tôn nghiêm. ở đây có 20 pho tượng có giá trị nghệ thuật cao. Chùa có 21 tấm bia đá, tấm cổ nhất là năm 1698; 3 đại hồng chung, chuông cổ nhất đúc năm 1796; 14 bộ bao lam (cửa võng) và các đồ thờ khác như bát hương đồng, long ngai, nhang án... đều rất quý. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.


CHÙA PHÚC LÂM



Chùa thường được gọi là chùa Chân Tiên, tọa lạc ở số 151 phố Bà Triệu, phường Lê Đại Hành, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Chùa được dựng vào thế kỷ XIX. Theo tư liệu của chùa, thì chùa được xây dựng vào thời Lý với tên chùa Báo Thiên với ngôi tháp Báo Thiên nổi tiếng nhất Thăng Long thời bấy giờ. Chùa đã bị hư hỏng vì chiến tranh, phải dời đi nhiều nơi. Đến cuối thế kỷ XIX, chùa dời về địa điểm hiện nay. Tên chùa Chân Tiên là ghép của hai tên thôn Chân Cầm và quán Chúng Tiên. Sư cô Thích nữ Đàm Luận, trụ trì chùa từ năm 1954 đã tổ chức trùng tu mở rộng chùa những năm gần đây. Chánh điện bài trí tôn nghiêm. Chùa có nhiều pho tượng quý của thế kỷ XIX. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.


CHÙA QUÁN SỨ



Chùa tọa lạc ở số 73 phố Quán Sứ, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Sách Từ điển di tích văn hóa Việt Nam (Hà Nội, 1993) cho biết chùa được triều đình dựng vào đầu đời Lê sơ để đón tiếp sứ giả các nước ngoài như Chiêm Thành, Vạn Tượng, Nam Chưởng... đến lễ Phật. Năm 1822, chùa được sửa sang lại làm chỗ lễ bái cho quân nhân. Năm 1827, Hòa thượng Thanh Phương ở Hà Sơn Bình đến trụ trì lo việc trùng tu, tô tượng, đúc chuông... Đệ tử của ngài là Văn Nghiêm lại cho đắp thêm 27 pho tượng. Năm 1934, Tổng hội Phật giáo Bắc Kỳ đặt trụ sở ở chùa. Chùa đã được xây dựng lại theo bản thiết kế của hai kiến trúc sư Nguyễn Ngọc Ngoạn và Nguyễn Xuân Tùng năm 1941. Chùa hiện nay đặt trụ sở Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Chùa Quán Sứ

Mặc dù không có lịch sử lâu đời và kiến trúc độc đáo như nhiều ngôi chùa khác ở Hà Nội, nhễng chùa Quán Sứ lại được nhiều người Việt Nam biết tới, coi như một ngôi chùa thiêng bậc nhất của Thủ đô. Chùa được Hội Phật giáo lấy làm trụ sở, lại ở giữa thành phố và cũng có một lịch sử khá đặc sắc. 

Nguyên vào giữa thế kỷ 14 đời Trần Dụ Tông, ở khu vực này có nhà Công quán của triều đình dùng để đón các sứ thần của các quốc gia phía Nam, như Chiêm Thành, Vạn Tượng, Nam Chễởng... Vì các sứ thần này theo đạo Phật nên để tiện cho việc cúng tế của họ trong những ngày dài chờ đợi được tiếp kiến, giải quyết công việc... triều đình cho lập ngay cạnh Công quán một ngôi chùa. Có lẽ vì thế mà người ta gọi ngôi chùa này là chùa Quán Sứ. 

Sau này Công quán bị hủy bỏ nhưng chùa vẫn được giữ lại. Năm 1822, chùa được sửa sang làm chỗ lễ bái cầu đạo cho quân nhân. Năm 1934, Hội Phật giáo Bắc Kỳ lấy chùa làm Hội quán. Năm 1942 chùa được xây dựng lại theo quy mô như ta thấy ngày nay. Năm 1958, Hội Phật giáo thống nhất Việt Nam lấy chùa làm trụ sở. 

Tiền đường chùa Quán Sứ thờ Phật, hậu đường thờ quốc sư triều Lý là Thiền sư Khuông Lộ. Trong chùa, ngoài các cơ quan của Hội Phật giáo còn một thư viện lớn, lưu giữ nhiều kinh sách Phật giáo. Bên ngoài cổng chùa cũng có một cửa hàng bán kính sách, đồ thờ. 

Chùa nằm ở trung tâm Thủ đô nên rất thuận tiện cho việc đi lại vãn cảnh, cúng bái của khách thập phương. Vào những ngày rằm, ngày mồng một, ngày lễ tết, đặc biệt là ngày Phật đản... các Phật tử, các thiện nam, tín nữ kéo về đây rất đông, tấp nập cả một đoạn đường Quán Sứ. 

Nhiều người Việt và cả người nước ngoài đến Hà Nội dẫu có bận bịu mấy cũng gắng đến vãn cảnh thắp nhang ở chùa Quán Sứ vì trong thâm tâm họ, chưa vào Quán Sứ cũng coi như chưa đến Hà Nội. 


CHÙA SÙNG PHÚC



Chùa còn có tên là Linh Nhân Từ Phúc, chùa Bà Tấm, tọa lạc ở xã Dương Xá, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội. Chùa được khởi dựng vào thời Lý. Di tích hiện nay còn hai sư tử đá đội bệ Tam Thế (mỗi sư tử cao 1m, ngang 1,4m), một con sấu đá (dài 2m) ở thành bật lan can và hai bia đá. Trong khuôn viên chùa có đền thời Bà Yỷ Lan Nguyên phi. Chùa được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

Chùa thường được gọi là chùa Bộc, tọa lạc tại đường chùa Bộc, phường Khương Thượng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Chùa còn có tên là Thiên Phúc. Bản lịch sử của chùa có ghi vào năm 1676, đời Vua Lê Hy Tông, vị Tăng lục Trương Trung Bá cùng nhân dân xây dựng lại chùa đã bị chiến tranh tàn phá. Chùa đã được trùng tu vào năm 1792 và đổi tên là chùa Thiên Phúc. Trước năm 1945, Hòa thượng Chính Công trụ trì đã khai trường thuyết pháp đào tạo được nhiều tăng, ni. Ơở chùa có cơ sở chữa bệnh bằng thuốc Nam nổi tiếng. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia




02 Tháng Chín, 2006, 09:05:44 PM
Reply #39
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 339
  • Điểm bài viết: 4
  • Nothing is impossible....Try the best....
CHÙA TAM BẢO



Chùa thường được gọi là chùa Tứ Liên, tọa lạc ở xã Tứ Liên, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Chùa được dựng vào thời Hậu Lê. Tài liệu của chùa cho biết chùa được dựng vào đời Vua Lê Thần Tông, năm Đức Long thứ ba (1631). Chùa được trùng tu nhiều lần. Năm 1992, Sư cô Thích nữ Đàm Đoan đã tổ chức trùng tạo ngôi chùa bằng vật liệu kiên cố, khánh thành ngày 20-10-1992. Chánh điện được bài trí tôn nghiêm. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.


CHÙA THẦN QUANG



Chùa thường được gọi là chùa Ngũ Xã, tọa lạc ở phường Trúc Bạch, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Chùa được dựng vào thời Hậu Lê, giữa thế kỷ XVIII. Chùa thờ Phật và thờ Thiền sư Nguyễn Minh Không, tục truyền là tổ nghề đúc đồng. Năm 1952, chùa được xây dựng lại hoàn toàn. Tượng đức Phật A-di-đà bằng đồng ở chánh điện là pho tượng đồng lớn nhất nước ta hiện nay. Tượng được đúc từ năm 1949 đến năm 1952, cao 3,95m, nặng 10 tấn. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.


CHÙA THÁNH CHÚA



Chùa tọa lạc ở xã Dịch Vọng, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Chùa được dựng vào thời Lý. Đến đời Lê, một bộ phận dân làng Dịch Vọng được tách ra lập xã Mai Dịch, từ đó chùa là chùa chung của hai xã Dịch Vọng và Mai Dịch. Ngôi chùa hiện nay được xây cất vào năm 1934, Sư cụ Thích nữ Đàm Văn đã tổ chức tu sửa chùa nhiều lần. Cổng chùa được sửa lại năm 1992. Chánh điện được bài trí tôn nghiêm, chùa có nhiều pho tượng quí. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.


CHÙA TRÙNG NGHIÊM (CHÙA KEO)



Chùa thường gọi là chùa Keo, tọa lạc ở làng Keo thuộc xã Kim Sơn, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội. Chùa được xây dựng vào thời Hậu Lê. Tương truyền chùa có vào đầu Công nguyên cùng với hệ thống chùa Tứ Pháp: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện qua huyền tích Man Nương: khi tạc cây đa cổ thụ thành tượng Bà Dâu, Bà Đậu, Bà Tướng, Bà Dàn thì còn dư một khúc cây, người ta tạc tượng Bà Keo là em út thờ ở chùa làng Keo, gần làng Dâu thờ bốn bà chị. Chùa còn một số di tích cổ như đại hồng chung, khánh. Ơở điện Phật có tượng Bồ-tát Quan Âm Thiên thủ Thiên nhãn cao 1,37m và tượng Bà Keo cao 1,40m ngang gối 0,67m. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.


CHÙA VINH KHÁNH



Chùa thường gọi là chùa Võng Thị, tọa lạc ở khối 75 Võng Thị, phường Bưởi, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Chùa được khởi dựng vào thời Lý, đã được trùng tu nhiều lần. Sư cô Thích nữ Đàm Đạo trụ trì đã tổ chức tôn tạo gần đây. Chánh điện được bài trí tôn nghiêm. Tầng trên cùng an vị bộ tượng Phật Tam Thế. Mỗi tượng cao 0,90m, kể cả tòa sen là 1,20m, ngang gối 0,54m, tạc bằng gỗ vào thời Mạc. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

02 Tháng Chín, 2006, 09:07:17 PM
Reply #40
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 339
  • Điểm bài viết: 4
  • Nothing is impossible....Try the best....
CHÙA TRẤN QUỐC



Chùa tọa lạc phía Nam hồ Tây, đường Thanh Niên, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Sách Từ điển di tích văn hóa Việt Nam (Hà Nội, 1993) giới thiệu chùa nguyên là chùa Khai Quốc, dựng từ thời Tiền Lý Nam Đế (541-547) tại thôn Yên Hoa, gần bờ sông Hồng. Đến đời Lê Trung Hưng (1615), chùa được dời vào trong đê Yên Phụ, dựng trên nền cũ cung Thúy Hoa (thời Lý) và điện Hàn Nguyên (thời Trần). Trong các năm 1624, 1628 và 1639, chùa được tiếp tục trùng tu, mở rộng. Trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính đã soạn bài văn bia dựng ở chùa vào năm 1637 về công việc tôn tạo này. Đầu đời Nguyễn, chùa lại được trùng tu, đúc chuông, đắp tượng. Năm 1821, Vua Minh Mạng đến thăm chùa, ban 20 lạng bạc để tu sửa. Năm 1824, Vua Thiệu Trị đến thăm chùa, ban 1 đồng tiền vàng lớn và 200 quan tiền, cho đổi tên chùa là Trấn Bắc. Nhưng tên chùa Trấn Quốc từ đời Vua Lê Hy Tông đã được nhân dân quen gọi cho đến ngày nay.,Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

Chùa Trấn Quốc là một trong những ngôi chùa cổ nhất Việt Nam, nằm cạnh Hồ Tây, ở cuối đường Thanh Niên, quận Ba Đình, Hà Nội. Chùa được xây từ thời Lý Nam Đế (541-547) ở gần sông Hồng, đến năm 1615, được dời vào vị trí ngày nay. Chùa có vườn tháp cổ u tịch, có nhiều tượng Phật giá trị, đặc biệt là tượng Thích Ca nhập Niết Bàn. Chùa là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

Theo Từ điển di tích văn hóa Việt Nam (Hà Nội, 1993), thì chùa Trấn Quốc nguyên là chùa Khai Quốc, dựng từ thời Tiền Lý (Lý Nam Đế, 541-547), tại thôn Y Hoa, gần bờ sông Hồng. Đến đời Lê Trung Hưng (1615), chùa được dời vào trong đê Yên Phụ, dựng trên nền cũ cung Thúy Hoa (thời Lý) và điện Hàn Nguyên (thời Trần). Trong các năm 1624, 1628 và 1639,chùa tiếp tục được trùng tu, mở rộng. Trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính đã soạn bài văn bia dựng ở chùa vào năm 1639 về công việc tôn tạo này. Đầu đời Nguyễn, chùa lại được trùng tu, đúc chuông, đắp tượng. Năm 1821, Vua Minh Mạng đến thăm chùa, ban 20 lạng bạc để tu sửa. Năm 1842, Vua Thiệu Trị đến thăm chùa, ban 1 đồng tiền vàng lớn và 200 quan tiền, cho đổi tên chùa là Trấn Bắc. Nhưng tên chùa Trấn Quốc có từ đời Vua Lê Hy Tông đã đễợc nhân dân quen gọi cho đến ngày nay.

Ta hoài niệm cùng vườn tháp nhấp nhô cao thấp, nhỏ to lời vang vọng giữa hư vô, nghe rõ tiếng ngọn chua me, cỏ ấu đang phập phồng hơi thở dưới chân tháp đầy hơi ẩm sương hồ, nghe lao xao trong gió tiếng mõ cầu kinh đang luận bàn Sắc Sắc Không Không. Ra phía trước sân chùa, thả tầm nhìn vào mênh mông sóng biếc, ta đứng dưới gốc bồ đề nguyên sinh ra từ Tây Trúc, được Tổng thống ấn Độ mang đến đây cho cây bén rễ, mang theo mầu Thiền. Mỗi chiếc lá đề có hình tim, cuống nhỏ nên mỏng mảnh, chỉ phơ phất gió đã rung rinh rào rạt.

Cũng giống như hầu hết những ngôi chùa khác trên đất nước Việt, chùa Trấn Quốc có nhiều lớp, có nhà bái đường, nhiều tượng Phật từ thấp đến cao, từ to đến nhỏ, vàng son lấp lánh, hương khói quanh năm... Đặc biệt có pho tượng Thích Ca nhập Niết Bàn bằng gỗ thếp vàng lộng lẫy.

Chùa còn có 14 tấm bia, trong đó có bia của Trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính, tiến sĩ Phạm Quý Thích dựng năm 1639 và 1015...

Chùa Trấn Quốc nằm trên bán đảo phía đông của Hồ Tây, nên thuộc đất làng Yên Phụ, nơi có ngôi đình thờ thánh. Vào mùa xuân hằng năm dân làng tổ chức đám rước từ đình sang chùa rồi từ chùa về làng bằng cả một đoàn thuyền nối nhau cờ reo trống thúc tưng bừng.

Người vào chùa Trấn Quốc, ngoài việc thành tâm lễ Phật còn là để có một chút ngao du ngắn, được thăm một danh lam nổi lên thanh bình giữa phố phường ồn ào, tất bật. Tịch mịch ngay giữa lòng thành phố, cái đáng quý còn đáng được bình phương lên nữa.

Chiều Trấn Quốc. Trời bình lặng. Hồ như một lão tăng chân tu, ngồi thiền trong hoàng hôn, lắng nghe câu kệ giữa bốn bề mây nước, dù phế hưng vẫn rộn rã những nẻo nào...

Hà Nội vẫn may mắn còn rất nhiều chùa chiền đền miếu. Nào Kim Liên, Một Cột, Liên Phái, Quán Sứ, Thái Cam... Nào đền Quán Thánh, Bích Câu đạo quán, nào đền Bạch Mã, đền Lý Quốc Sư...

Riêng Trấn Quốc vẫn thuộc loại chùa cổ nhất, như đã đắc đạo trên đường tu luyện mà mặt nước Hồ Tây đầy huyền thoại làm chứng quả. Chùa không nhiều bậc đá rêu phong, hay núi non trùng điệp, nhưng thật yên bình cùng sóng nước ngân nga, vẫn có thể cho hồn ta giọt nước cành dương, rửa đi một phần thế tục, để làm Lành làm Thiện với nhân gian...


02 Tháng Chín, 2006, 09:10:47 PM
Reply #41
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 339
  • Điểm bài viết: 4
  • Nothing is impossible....Try the best....
Hà nam

CHÙA BÀ ĐANH (BẢO SƠN TỰ)

Chùa Bà Đanh còn được gọi là Bảo Sơn tự, nằm ở thôn Đanh, xã Ngọc Sơn, huyện Kim Bảng. Từ thị xã Phủ Lý, qua cầu Hồng Phú, theo đường 21, đến cây số 7, qua cầu Quế, đi thêm 2km là đến chùa. 

Cũng như các ngôi chùa khác, chùa Bà Đanh thờ Phật, song ở chùa Bà Đanh ngoài tượng Bồ Tát còn có tượng của Thái Thượng Lão Quân, tượng Nam Tào, Bắc Đẩu và các tượng của tín ngưỡng Tứ Phủ, một tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Có tượng của hệ thống Tứ Phủ vì chùa thờ Tứ Pháp. Sự tích Tứ Pháp với các bà mẹ Mây(Pháp Vân), Mưa (Pháp Vũ), Sấm (Pháp Lôi), Chớp (Pháp Điện) như là sự hỗn dung giữa Phật giáo với tín ngưỡng dân gian bản địa đã được chép trong Truyện Man Nương của Lĩnh Nam chính quái (Trần Thế Pháp, thế kỷ XIV, Vũ Quỳnh – Kiều Phú, 1492). 

Câu chuyện về gốc tổ Tứ Pháp được hình thành từ mẹ Phật Man Nương đã lan truyền khắp vùng đồng bằng Bắc bộ và cũng được lưu hành ở đây. Người dân Kim Bảng tin rằng, từ khi thờ Tứ Pháp, vùng Bắc Ninh được mưa thuận gió hoà, phong đăng hoà cốc, mùa màng bội thu. Do vậy, họ bèn họp nhau lên xứ bắc để xin chân nhang về thờ. Các làng Vân Lâm, Đặng Xá, Vân Châu, Bầu thôn, Bài Lễ… đã xin chân nhang, tạc tượng Tứ Pháp để thờ, từ đó, tục thờ Tứ Pháp lan truyền ở các xã vùng ven sông Đáy trên đất Hà Nam. 

Dân làng Đanh cũng đang có ý định xin chân nhang ở Bắc Ninh về thờ thì xảy ra một câu chuyện lạ. Địa phương còn lưu hành một truyền thuyết sau: Trước đây, ở vùng này luôn gặp mưa to, gió lớn nên việc sản xuất gặp nhiều khó khăn, mùa màng thất bát gây ra cảnh đói kém triền miên. Cho đến một hôm, một cụ già cao tuổi trong làng nằm mộng thấy một người con gái trẻ trung, xinh đẹp, đoan trang, khuôn mặt phúc hậu, vầng trán và đôi mắt thông minh hiện ra nói rằng: Ta được thần cho về đây để chăm nom và chỉ khu rừng đầu làng làm nơi dựng chùa. Nơi ấy bấy giờ là vạt rừng rậm rạp có nhiều cây cổ thụ, sát bờ sông là một hòn núi nhỏ, nhô mình ra mặt nước, trong rừng rộn rã tiếng chim quang cảnh thật là thần tiên. 

Ngôi chùa ban đầu được xây dựng tranh tre nứa lá đơn sơ, đến năm Vĩnh Trị, đời Lê Hy Tông, khu rừng mới được mở mang quang đãng để xây chùa lại cho khang trang. Khu vực này cấm người dân làm nhà ở nên cảnh chùa càng thêm trang nghiêm, vắng vẻ. Ngôi chùa được xây dựng ít lâu thì có một cây mít cổ thụ ở quanh chùa bỗng dưng bị gió to quật đổ. Dân làng đã đẵn lấy gỗ để tìm thợ về tạc tượng. 

Bỗng nhiên có một khách thập phương tìm đến chùa nói rằng mình làm nghề tạc tượng và được báo mộng đến đây. Người khách tả hình dáng và dung nhan người con gái đã báo mộng thì thấy giống hệt vị thần đã báo mộng cho cụ già trong làng. Năm ấy gặp mùa mưa lũ, nước sông dâng cao, tạc tượng gần xong thì dưới bến nước trước chùa có vật lạ, nửa nổi, nửa chìm, không trôi theo dòng nước, đẩy ra mấy lần lại thấy trôi trở lại. Thấy chuyện lạ, dân làng vớt lên xem thì hoá ra đó là một cái ngai bằng gỗ bèn rước ngay vào chùa. Thật lạ lùng, pho tượng tạc xong thì đặt vừa khít vào ngai. Từ đó trong vùng mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu, tiếng đồn Thánh Bà Bảo Sơn linh ứng lan truyền khắp nơi, khách thập phương về lễ rất đông. Những người làm nghề sông nước xuôi ngược qua đoạn sông này gặp mùa lũ đều lên chùa thắp hương cầu mong yên ổn. 

Truyền thuyết này có đôi nét gần gũi với truyền thuyết Man Nương, ở những chi tiết như cây gỗ trôi sông (Truyện Man Nương) và ngai gỗ trôi sông (truyền thuyết về Bà Đanh), ở bản chất của vị thần cả hai nơi thờ đều là nữ thần nông nghiệp. Ngoài ra, ở truyền thuyết về Bà Đanh ta còn thấy bóng dáng của tục thờ thần sông nước của nhân dân vùng ven sông Đáy. 

Chùa quay mặt ra hướng nam mạn sông Đáy. Phía ngoài cùng, giáp với đường đi và gần bờ sông là cổng tam quan của chùa. Công trình này được tôn cao vượt hẳn lên năm bậc và hai đầu xây bít đốc. Tam quan có ba gian, hai tầng. Tầng trên có hai lớp mái, lợp bằng ngói nam, xung quanh sàn gỗ hàng lan can và những chấn song con tiện, tầng này sử dụng làm gác chuông, ba gian dưới có hệ thống cánh cửa bằng gỗ lim. Phía ngoài cửa hai bên là hai cột đồng trụ được xây nhô hẳn ra. Trên nóc tam quan đắp một đôi rồng chầu vào giữa. Hai bên cổng chính là hai cổng nhỏ có tám mái, cửa phía trên lượng cong hình bán nguyệt. Ngày thường, khách ra vào lễ chủ yếu đi bằng cửa bên này, chỉ khi nào nhà chùa có đại lễ thì cửa chính ở giữa mới được mở. 

Qua cổng tam quan là khu vườn hoa, sân lát gạch, hai dãy hành lang hai bên. Nhà bái đường có 5 gian, hai đầu xây bít dốc, lợp ngói nam. Nhà rung đường 5 gian hai đầu xây bít dốc, lợp ngói nam, cửa đức bàn nối liền với toà bái đường. Nhà thượng diện có 3 gian, hai bên xây tường bao, phía trước là hệ thống cửa gỗ lim. Lòng nhà ở đây so với khu bái đường và trung đường thì hẹp hơn nhưng được xây cao hẳn lên. Nằm về phía tây khu chùa là khu nhà ngang gồm 5 gian, ba gian vừa dùng làm nơi thờ các vị tổ đã trụ trì ở đây, hai gian đầu hồi được ngăn thành 2 gian buồng làm nơi ở cho người tu hành. Đằng trước nhà tổ là một sân gạch, phía ngoài là khu vườn để trồng hoa với cây lưu niên. Phía đông của khu chùa là phủ thờ Mẫu làm giáp với dãy trung đường. Toàn bộ khu vực chùa có tường bao quanh. 

Chùa Bà Đanh là một hệ thống tổng thể bao gồm nhiều công trình với gần 40 gian nhà. Theo nhân dân địa phương cho biết thì ngôi chùa đã được xây dựng từ lâu đời nhưng được trùng tu nhiều lần. Các công trình còn lại đều được xây dựng từ thế kỷ XIX trở lại đây. 

Xưa nay khi nhắc tới chùa Bà Đanh, người ta thường hiểu đó là ngôi chùa có cảnh quan sơn thuỷ hữu tình, thanh u, cô tịch và linh thiêng nổi tiếng một thời. Chùa có vẻ đẹp cổ kính, thâm nghiêm vào loại hiếm có của tỉnh Hà Nam. 

Chính giữa hệ thống của bức bàn bằng gỗ lim của tầng dưới tam quan có bức chạm ngũ phúc (5 con dơi ngậm chữ thọ). Ở mỗi cột trụ được thiết kế nhô hẳn ra phía ngoài hai tường bên, nghệ nhân xưa đều đắp nổi tường hình tứ linh: long, ly, quy, phượng theo thế đối xứng, cầu kỳ, uyển chuyển. Trên nóc tam quan có đắp một đôi rồng chầu mặt nguyệt bằng vôi cát và mảnh sứ, mang phong cách rồng thời Nguyễn. Đáng chú ý nhất ở tam quan là đôi rồng đá và đôi hổ đá được bố trí dọc theo hai bên bậc lên xuống, theo thế đối xứng, chầu vào nhà Bái đường. Nếu so với tượng đôi rồng chầu mặt nguyệt trên nóc tam quan, thì tượng đôi rồng đá dưới chân trong tam quan được trổ đơn giản, hiền lành hơn, còn phảng phất bóng dáng con rắn, chứ chưa mang hình kỳ đà. Tương tự như thế, đôi hổ đá ngồi chếch 450 phía sau, cũng được chạm trổ đơn giản, hiền lành, không dữ tợn như tượng ngũ hổ các nơi thờ khác. Đây là những di vật thuộc loại quý hiếm đầy chất dân gian rất cần được bảo vệ. 

Gần như toàn bộ nghệ thuật kiến trúc và nghệ thuật chạm khắc của ngôi chùa tập trung thể hiện ở nhà bái đường – nơi hành lễ thường ngày của các nhà sư và các phật tử. Nhà bái đường năm gian, khung gỗ lim, đầu hồi bít đốc và cũng đắp nổi hai con rồng. Quan sát từ giữa sân gạch, người ta sẽ thực sự hứng thú khi được chiêm ngưỡng hệ thống tượng đắp nổi theo đề tài "Tứ long chầu mặt nguyệt" trên nóc nhà mái đường. Cả bốn con rồng, từ kiểu dáng thân hình uốn lượn, đến mắt, râu, vuốt, vây đều rất sinh động, uyển chuyển, mà cũng rất dữ dội, tưởng như đang vờn nhau, bay lượn trong khoảng không bao la. Phong cách rồng thời Nguyễn thể hiện ở đây rất đậm nét. 

Đầu hai dãy hành lang và liền với nhà bái đường là hai cột trụ cao vút, sừng sững, uy nghi. Trên mỗi cột đều đắp nổi hình tứ linh: long, ly, quy, phượng theo thế đối xứng, gợi cảm giác hài hoà, cân đối, vững bền. Từng đường nét của hình long, ly, quy, phượng đều toát ra vẻ tỷ mỷ, đông phu, tài hoa của các nghệ nhân xưa. Tài năng chạm khắc của nghệ nhân xưa thể hiện trên sáu cột cái của toà nhà này. Vì kèo thứ nhất (tính từ Tây sang Đông) một mặt áp tường, chạm mặt hổ phù, trúc hoá long, hoa hồng, quả đào, quả lựu.   

Vì kèo thứ hai, mặt trước chạm "Ngũ phúc" (năm con dơi), hoa mai, hoa hồng dàn tranh, bút lông quả và bầu rượu, mặt sau chạm (ngũ long tranh châu), hoa hồng, hoa lan, mai hoá. Vì kèo thứ ba, mặt trước chạm "Tứ linh" (long, ly, quy, phượng), "Tùng mã" (từng và ngựa), "Mai điểu" (hoa mai và chim), quá giang chạm đàn tranh, đàn nguyệt, phách, mặt sau, chạm "Tứ linh", bầu rượu, cuốn thư. Vì kèo thứ tư, mặt trước phía trên chạm "Lưỡng long chầu nguyệt", phía dưới chạm "Tứ linh", quá giang: chạm hoa hồng, cây tùng, cuốn thư, kim tiền, đàn và sáo. Vì kèo thứ năm, mặt trước chạm mặt hồ phù, nghê chầu hai bên, mai hoá, quá giang chạm: quả đào, phật thủ, quả lựu, hoa hồng, cuốn thư và con dơi, mặt sau: chạm "Ngũ phúc", quả đào, hoa hồng, cuốn thư. Vì kèo thứ sáu, (một mặt áp tường) chạm mặt hổ phù, thông hoá long, trúc hoá long, trên quá giang chạm quả đào, mai, trúc, nho, lựu, đào mai, quạt vải. Ngoài sáu vì kèo còn có sáu cột cái bằng gỗ lim, đứng giáp ranh giữa nhà bái đường và nhà trung đường. Trên mỗi thân cột đều chạm chìm hình rồng leo chầu vào ban thờ ở giữa gian thứ ba với các nét chạm rất tinh xảo. 

Về mặt đề tài, nếu là động vật, thì nghệ nhân đắp nổi hay chạm theo đề tài: "Tứ long" (long, ly, quy, phượng), "Ngũ phúc" (năm con dơi), "Lưỡng long chầu nguyệt", "Ngũ long tranh châu", "Tứ long chầu mặt nguyệt", nếu là thực vật, thì có các đề tài: "Tứ quý" (Tùng, cúc, trúc, mai), "Bát quả" (đào, nho, lựu, vả, phật thủ), nếu là thực vật kết hợp, thì các các đề tài: "Mai điểu" (Hoa mai và chim), "Tùng mã" (cây tùng và ngựa), "Trúc hóa long", "Thông hoá long"… Ngoài ra, còn có đề tài quen thuộc như dàn tranh, dàn nguyệt, phách, sáo, bút lông, bầu rượu, quạt quả vả mà dân gian vẫn hiểu là "Bát bảo" (tám loại quý). Trong quá trình sáng tạo, nghệ nhân xưa đã kết hợp thể hiện những đề tài ước lệ tượng trưng của nghệ thuật mang tính cung đình ("Tứ linh", "Ngũ phúc", "Lương long chầu nguyệt", "Ngũ long tranh châu", "Mai điểu", "Tứ quý", "Tùng mã") với những đề tài thuộc nghệ thuật dân gian như "Ngũ quả", "Bát quả", đàn, sáo, nhị, phách. Lối thể hiện phối hợp khéo léo giữa lối chạm nổi, chạm long với lối chạm chìm. Tất cả đều được cách điệu hoá mà vẫn có hồn, sinh động. 

Trong nhà thượng đường của chùa Bà Đanh, có nhiều tượng thờ như tượng Tam thế, tượng Ngọc Hoàng và thái thượng Lão Quân, tượng Bà Chúa Đanh. Có thể coi pho tượng Bà Đanh là một trung tâm của chùa. Tượng được tạc theo tư thế toạ thiền trên chiếc ngai đen bóng (chứ không phải là toà sen), với khuôn mặt đẹp, hiền từ, đầy nữ tính, gần gũi và thân thiết, chứ không có dáng vẻ siêu thoát, thần bí như các tượng Phật khác. Sự hài hoà giữa pho tượng và chiếc ngai tạo nên vẻ hấp dẫn của nghệ thuật điêu khắc chùa Bà Đanh.


CHÙA LONG ĐỌI SƠN



Chùa nằm trên núi Đọi Sơn thuộc xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, Hà Nam, cách Phủ Lý khoảng 8 km về phía Bắc. Chùa Đọi được xây dựng vào năm 1054 và được trùng tu năm 1118-1121. Đây là ngôi chùa cổ có nhiều nét văn hoá nghệ thuật kiến trúc tinh xảo, mang đậm dấu ấn qua các thời kỳ lịch sử. Hàng năm vào ngày 21/3 âm lịch chùa Đọi Sơn mở hội. Với vị trí địa lý thuận lợi, phong cảnh thiên nhiên đẹp, nơi đây sẽ là một điểm du lịch khá hấp dẫn. 

Từ Hà Nội, trên quốc lộ 1 từ Đồng Văn rẽ trái đi Hoà Mạc 8km là đến chùa. Ngôi chùa được xây dựng trên đỉnh núi, trong khuôn viên 2 hec-ta vườn rừng. Chùa quay về hướng nam, đúng như câu tục ngữ: Đầu gối núi Đọi, chân dọi Tuần Vường, phát tích đế vương, lưu truyền vạn đại. 

Chùa Long Đọi Sơn có tên là Diên Linh tự. Chùa do vua Lý Thánh Tông và Vương phi Ỷ Lan chủ trì xây dựng từ năm 1054 (tể tướng Dương Đại Gia và thiên sư Đàm Cứu Chỉ được mời đến trụ trì và tham gia xây dựng). Đến đời Lý Nhân Tông, nhà vua này tiếp tục xây dựng phát triển và xây tháp Sùng Thiện Diên Linh từ năm 1118 đến năm 1121. Các công trình ở đây là chùa và tháp. 
 
Ngay cổng chính, trước tòa tam bảo là nhà bia để tấm bia Sùng Thiện Diên Linh nổi tiếng. Khi xây xong chùa và tháp, nhà vua sai Thượng thư bộ Hình Nguyễn Công Bật soạn văn bia. Văn bia nguyên có tên là Đại Việt quốc dương gia đệ tứ Sùng Thiện Diên Linh tháp bi, được viết xong ngày 6 tháng 7 năm Tân Sửu (1121). Nội dung bài văn bia chủ yếu ca ngợi công lao tài trí của Lý Nhân Tông trong việc xây dựng, kiến thiết và đánh giặc giữ nước. Mặt sau tấm bia ghi việc Thái hậu Ỷ Lan cúng vào chùa 72 mẫu ruộng làm đèn nhang năm 1121 , khắc bài thơ của Lý Thánh Tông làm vào năm Quang Thuận thứ 8 (1467) nhân dịp nhà vua đi bái yết sơn lăng lên thăm chùa và ghi việc tu sửa chùa vào thời vua thứ 5 nhà Mạc (1591). Sau nhà bia là tòa tam bảo, rồi đến chùa chính gồm 6 gian. Phía sau chùa chính là sân, vườn hoa, hai bên sân là hai hành lang, mỗi bên đặt 9 pho tượng La Hán. Sau cùng là hậu điện. Bên phải chùa, cạnh vườn hoa là nhà thờ tổ, nhà giảng đường và nhà khách. Phía sau nhà thờ tổ là gian nhà trai, thiền tổ và sau cùng là bếp. 

Đi theo lối cổng phụ, sẽ đến nơi trước kia có ngọn tháp Chùa Đọi. Cây tháp là một công trình được xây dựng công phu. Tháp gồm "13 tầng chọc trời, mở 40 cửa đứng gió". ở tất cả các cửa vách đều chạm rồng. Đây là loại tháp vuông 4 mặt. Ngoài tầng đế và hai tầng trên không có cửa, còn lại 10 tầng mở cửa cả 4 phía. Tháp Sùng Thiện Diên Linh là tháp mộ, tầng trên "đặt hồng vàng xá lị, tỏa tường quang cho đời thịnh sau này". Tầng đế hợp với tầng đầu tiên thành nơi thờ Phật, trong đó có đặt tượng Đà Bảo Như Lai. Trên các xà của tháp có treo chuông đồng. Đây là loại chuông nhỏ có khả năng là những bộ đinh đang, khi gió thổi va vào nhau tạo thành những âm thanh réo rắt. 

Tầng dưới chân tháp trước đây có "tám vị tướng khôi ngô đứng chống kiếm trang nghiêm chia đều ở bốn cửa" (nay chỉ còn lại 6 pho tượng), trên nóc có "tiên khánh bưng mâm, hứng móc ngọc cho bầu trời tạnh ráo". Cả cây tháp như là một ngọn bút, một tượng đài cao, bao gồm nhiều hình tượng và được thể hiện bằng nhiều phong cách khác nhau. Bên cạnh đó, ở rải rác trong các thành phần kiến trúc còn có nhiều tượng trang trí như tượng chim thần đầu người mình chim đặt trên các con sơn, tượng giống như ở các cửa cuốn, các đố dọc. ngay cả những viên gạch dùng để ghép tường cũng có trang trí những hình vũ nữ đang múa.   

Chùa Long Đọi Sơn đứng vững hơn ba trăm năm. Đầu thế kỷ XV, khi giặc Minh xâm lược nước ta, chùa và tháp đã bị phá hủy hoàn toàn. Riêng bia vì không phá nổi, chúng đã lật đổ xuống bên cạnh núi. Khi lên thăm cảnh chùa, vua Lê Thánh Tông có bài thơ cho khắc ngay sau tấm bia Sùng Thiện Diên Linh, trong đó có những câu tố cáo tội ác của giặc: Hoang đường vua Lý bia còn đó. Tàn bạo quân Minh tháp khác xưa… 

Mãi tới cuối thế kỷ XVI, vào năm 1591 đời Mạc Mậu Hợp, tức là gần 170 năm sau khi bị giặc Minh tàn phá, ngôi chùa bị bỏ phế hoàn toàn, nhân dân địa phương mới "dựng lại bia đổ, bắc lại xà nhà và những chỗ tường hư hỏng, làm cửa xây tường khiến cho sau hơn 500 năm, một nơi thắng cảnh trong chốn tùng lâm lại được mới mẻ" (Bài văn khắc mặt sau bia Sùng Thiện Diên Linh). Vào năm Tự Đức thứ 13 (1860), chùa Đọi Sơn có sửa sang thượng điện, tiền đường, nhà tổ, siêu hương, gác chuông, nghi môn. Đến năm 1864, chùa lại tiếp tục sửa hành lang, đúc tượng Di Lặc, đúc khánh đồng và đúc khánh đá do sư tổ đời thứ 5 là Thích Chiếu Trường chủ trì xây dựng hoàn chỉnh, từ đó trở thành trường Bắc Kỳ Phật giáo. Tại tiền đường, thượng điện tượng Phật rất nhiều. Hai bên chùa là 18 gian hành lang thờ thập bát La Hán. Ngay ngõ vào là hai dãy nhà đắp cảnh thập điện. Ngoài ra, chùa còn có nhà tổ, nhà khách, tăng phòng… tất cả có 125 gian.

Trong kháng chiến chống Pháp, năm 1947 theo chủ trương tiêu thổ kháng chiến, chùa bị bỏ hoang suốt 10 năm trời, các sư sãi đều phải tản cư đi nơi khác. Ngay sau ngày hoà bình lập lại, năm 1957, các sư cùng các tín đồ phật tử và nhân dân địa phương cho sửa chữa, tôn tạo lại di tích. 

Các di vật của chùa Long Đọi còn giữ được như tấm bia Sùng Thiện Diên Linh, 6 pho tượng Kim Cương trong 8 pho có từ ngày xưa là những hiện vật rất quý báu đối với việc nghiên cứu văn hoá nước ta cách đây gần một thiên niên kỷ.   

Bia cao 2,5m, rộng 1,65m, dày 0,3m. Bệ bia là một khối đá hình chữ nhật dài 2,4m, rộng 1,8m, cao 0,5m không tạc hình con rùa như các chân bia khác mà tạc hình hai con rồng uốn khúc. Bệ chia làm hai phần, phần nằm tiếp xúc với đất hình chữ nhật, phần phía trên chạm khắc hình sóng nước 2 lớp trên cao và dưới thấp. Mặt bệ bia chia làm hai nửa, tạc hình hai con rồng, đuôi ở đoạn sau, xoắn thành 4 khúc khép kín. Mỗi con rồng có 4 chân, đầu rồng có bờm nhưng nay chỉ có cổ đầu rồng đã bị phá vỡ. Chạy vành ngoài mặt chính của bia là những con rồng được chạm nối tiếp nhau. Trán, diềm và cạnh bia đều lấy hình rồng làm đối tượng trang trí, ở trán bia có 2 con rồng chầu vào giữa tên bia Đại Việt quốc dương gia đệ tứ Sùng Thiện Diên Linh tháp bi. Hai mặt cạnh bia mỗi bên có 9 ô quả trám, trong mỗi ô có chạm hình rồng.

Hiện này chùa Đọi còn giữ được 6 trong 8 pho tượng Kim Cương, trong đó, có những pho bị mất đầu hoặc sứt gẫy đã được đắp lại bằng xi măng. Các pho tượng Kim Cương ở chùa Đọi có kích thước xấp xỉ nhau, cao bằng người thực, khoảng 1,6m đứng chống gươm trước bụng. Tượng được tạc bằng đá khối, phục trang theo lối võ quan. Lá chắn che trước ngực, áo giáp ngoài được trang trí tỉ mỉ bằng hình hoa cúc, hình xoắn. Trên toàn thân áo còn rải rác những bông hoa nhỏ nhiều cánh. Cán gươm được trang trí hình ho cúc dây. Tượng được tạc nổi một phần theo kiểu phù điêu về phía đằng trước, phía sau lưng lẫn luôn vào khối đá. Tượng đứng thẳng, hai chân hơi dõng theo thế đứng vững chãi của người lính gác, hay tay khuỳnh chống gươm trước bụng, đầu đội mũ trùm tai, mặt tròn trặn, nhẹ nhõm. 

Tượng đầu người mình chim mang hình tượng nghệ thuật trong thần thoại Ấn Độ, gọi là tượng chim thần Ki-na-ri. Tượng được tạc bằng đá ráp, cao 40cm, tạc một hình người nửa dưới là chim, chân và cánh thể hiện rất rõ, chân có móng, đuôi nhiều lông cao vút. Hình tượng người rất thực. Trên đầu tượng, tóc tết thành hình cầu, vắt ngang trán là một vành khăn rủ xuống ngang vai. Trên hai cánh chim là những đường cong khắc chìm vòng quanh vành ngoài, bên trong có những đường xoáy trôn ốc được cách điệu theo hình hoa lá chạm nổi. Thu hút nhất ở tượng là bộ mặt. Đây là bột mặt trầm tư, đôi mày thanh tú và dài, cặp mắt hơi xếch, đuôi mắt dài hơn, quặp xuống, làm môi khép lại thoáng như có nụ cười. Mũi dọc thẳng, cao. Bộ tóc phía trên đầu được thắt bằng một dải điểm hoa, tạo thành búi trên đỉnh đầu. Đây là những mô típ trang trí của thế kỷ XI–XII. 

Tại chùa Đọi đã tìm thấy một số viên gạch bằng đất nung có hình vũ nữ, một số viên khác có hình rồng: 
 
Gạch đất nung có hình vũ nữ: Kích thước trung bình của loại gạch này rộng 0,15m, dài 0,22m, dày 0,08m, được nung già, có màu đỏ son. Hình các vũ nữ múa ở đây được miêu tả cách điệu, dáng điệu các nhân vật mềm mại uyển chuyển, gương mặt tươi sáng với một nụ cười kín đáo, tóc chải ngược về phía sau, uốn bồng lên cao, mũ che một phần tóc, chân đi hài mũi cong, bắp tay, cổ tay để trần có đeo vòng, quần ống túm, áo thêu thùa công phu. Động tác của các vũ nữ như đang lướt về phía trước, toàn thân như đang đung đưa, chân hải bước lên, chân trái gập xuống, hai cánh tay để trần tung ngang vai, đầu lắc lư theo nhịp trống. Hai bàn tay xòe ra là một động tác vũ đạo vừa như đỡ một tấm xà chạm cách điệu ở phía trên. Toàn bộ cả mảng gốm này được ghép lại với nhau toát lên một vẻ say sưa với cuộc sống.

Gạch đất nung có hình rồng: Loại gạch này có chiều dài 0,24m, cao 0,1m được nung già, có màu đỏ. Viên gạch được khắc trọn vẹn một con rồng. Đây là một con rồng thân hình tròn, có nhiều khúc uốn lượn, thân dài và nhỏ dần về phía đuôi, có dáng dấp một con rắn. Đầu rồng có tỷ lệ cân đối với thân, chân rồng thanh mảnh, râu thoát ở hàm trên ra, có hai đường sóng cuộn vào nhau. Bờm sau gáy thoát ra từ nhiều đốt, lượn về đằng trước hoặc đằng sau. Con rồng được tạo ở tư thế mình nghiêng, đắp nổi trên gạch nhưng rất sinh động.

Đây là pho tượng đồng nặng 1 tấn, được đúc vào năm 1864. Toàn bộ pho tượng được đặt vào thế ngồi thoải mái, chân phải chống lên, chân trái xếp vào lòng. áo mặc nhưng chỉ xỏ hai cánh tay, để hở cả ngực và bụng, bụng căng tròn, ngực nở, vai đầy đặn. Bộ mặt được diễn tả thành công thể hiện sự no đủ, vui tươi. Tai dài, dầy. Các khối thịt ở cằm, má được chú ý khắc hoạ. Pho tượng được tạo với tư thế ngồi, đầu hơi ngửa ra sau, chiều ngang được mở rộng ra hai bên, số đo chiều ngang lớn hơn số đo chiều cao. Tất cả các chi tiết đều thể hiện sự thống nhất của một ý đồ nghệ thuật và qua đó, biểu hiện tư tưởng của tác giả 

Trong các lễ hội thờ Phật, đặc sắc và đông đảo nhất là lễ hội chùa Đọi Sơn thuộc xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, Hà Nam. 

Hàng năm cứ đến ngày 21 tháng 3 âm lịch, chùa Đọi Sơn mở hội. Nhân dân trong vùng và rất đông khách thập phương đã về dây lễ và văn cảnh chùa. Từ sáng sớm, đoàn rước kiệu đã hành lễ từ chân núi lên chùa làm lễ, dâng hương tưởng niệm Lý Nhân Tông, người có công mở mang xây dựng chùa. Sau phần lễ dâng hương là các đội tế nam quan, tế nữ quan tạ ơn Trời Phật. 

Về phần hội, vào ngày lễ hội chùa Đọi Sơn, có nhiều trò vui được tổ chức như nấu cơm thi, thi dệt vải, bơi thuyền, hát chèo, hát đối, hát giao duyên, hội chọi gà, tổ tôm điếm, múa tứ linh, dấu vật, đánh cờ người.


 


02 Tháng Chín, 2006, 09:28:39 PM
Reply #42
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 339
  • Điểm bài viết: 4
  • Nothing is impossible....Try the best....
Hà Tây

CHÙA ĐẠI BI (CHÙA BỐI KHÊ)



Chùa thường gọi là chùa Bối Khê, tọa lạc ở xã Bối Khê nay là xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây. Chùa được dựng vào thời Trần, khoảng năm 1338. Kiến trúc hiện nay chủ yếu là những lần trùng tu vào cuối thế kỷ XVIII và năm 1923. Chùa còn giữ được nhiều di vật của thời Trần ở tòa thượng điện, và tượng Bồ-tát Quan Thế Âm tạc vào thế kỷ XVI. Theo sách Từ điển di tích văn hóa Việt Nam (Hà Nội, 1993), ngoài chư Phật, chùa còn thờ Minh Đức chân nhân đời Trần. Ngài họ Nguyễn, húy là Nữ, tự Bình An, tu hành đắc đạo, tăng đồ theo thụ giáo rất đông. Hàng năm mở hội lễ vào ngày 12 tháng giêng (âm lịch). Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử  văn hóa quốc gia.

Tam quan và gác chuông chùa Bối Khê
TTCT - Những ngày chớm hạ này theo quốc lộ 21B, tới chùa Đại Bi (thường được gọi là chùa Bối Khê) ở thôn Bối Khê, xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây - cách Hà Nội chừng 20km, du khách sẽ được ngắm những hoa sen trắng, thơm ngào ngạt ẩn dưới tầng tầng cành lá trong không gian cổ kính của một ngôi chùa có từ thời nhà Trần.

Không vươn lên từ mặt nước hồ, những hoa sen kỳ lạ chùa Bối Khê bung ra tinh khiết trắng từ những cành lá xanh. Búp sen nho nhỏ giống hệt búp sen thường thấy.

Thoạt nhìn, hoa sen chùa Bối Khê nhang nhác hoa trà, lá giông giống lá cây sanh nhưng tỏa hương thơm đặc trưng của hoa sen nước, có phần đậm đà hơn. Mùa hoa sen từ tháng 4 - tháng 6 âm lịch, hoa nở tới 1 - 2 tuần mới tàn.

Chỉ có ở chùa Bối Khê (?)

Tương truyền những cây hoa sen kỳ lạ này đã có hàng trăm năm trong khuôn viên chùa. Dân làng không ai rõ, gọi là sen cạn. Trước đây chùa có hai cây sen tổ cao chừng 5m nhưng một cây đã chết vì sâu mọt. Có hồi trên báo chí từng tranh luận về câu ca dao Hôm qua tát nước đầu đình/ Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen, còn theo lời ông Nguyễn Mạnh Hùng, bảo vệ chùa Bối Khê: “Mọi người bảo làm gì có cành sen, nhưng chỉ chùa làng tôi có cành sen”.

Hiện trong khuôn viên chùa cũng chỉ có vỏn vẹn ba cây sen. Hai cây sen con cao chừng 2m, trồng trước tam bảo, được chiết từ cây sen tổ cạnh hậu cung thờ thánh. Theo ông Hùng, hai cây sen con mỗi năm chỉ nở chừng 10 hoa. Khi chúng tôi đến chùa, hai cây sen con mới nở chừng 1-2 hoa và đang có nụ, thế mà trong không gian ầm ầm tiếng cưa đục, xây trát đại tu ngôi chùa cổ vẫn ngát hương. “Chùa cũng đã có ý định nhân giống sen trồng nơi khác trong làng nhưng không sống được” - ông Hùng bảo.

Ngôi cổ tự độc đáo

Hoa sen trắng trên cây con
Chùa Bối Khê ẩn dưới tầng lá mát rượi bóng đề, đa cổ thụ ba người ôm không xuể, kề bên là hàng loạt di tích cổ kính khác. Trên gác chuông chùa có treo quả chuông đồng đường kính 60cm, cao 1m, đúc năm Thiệu Trị thứ 4 (1844). Chùa được dựng vào thời Trần, khoảng năm 1338, toàn bộ kiến trúc được sắp xếp cân xứng hợp thành kiểu nội công ngoại quốc. Qua khỏi gác chuông là sân gạch rộng xanh mát những cây đại, móng rồng, sen cạn... Hai bên là hai hồ sen, cũng là giếng nước sinh hoạt cho dân làng trước đây, nay là nơi biểu diễn văn nghệ trong dịp hội chùa.

Trong số 58 pho tượng của chùa có những tượng đẹp không kém tượng chùa Mía, chùa Dâu, chùa Thầy..., chẳng hạn tượng Ngọc hoàng Thượng đế, thập điện Diêm vương, và nhất là tượng Phật Quan Âm 12 tay cao chừng 2m ngồi trên tòa sen đặt trên bệ đá chạm khắc hình rồng, chim thần, hoa lá có niên đại 1382, triều vua Trần Phế Đế.

Chùa còn nhiều hiện vật quí hiếm: nhang án hoa sen bằng đá được làm vào thời Trần (1382), đèn gốm trang trí hình cánh sen, rồng đắp nổi và tượng Quan Âm Nam Hải thời Mạc, cùng nhiều bia đá mà cổ nhất là bia sự tích “Bối động thánh tích bi ký” có niên đại Thái Hòa 11 (1453)...

Hằng năm chùa mở hội vào ngày 12 tháng giêng âm lịch. 14 thôn lân cận rước kiệu thánh làng mình về tế lễ thánh Bối Khê, sau đó rước kiệu thánh lên đình Kim thờ Hai Bà Trưng. Một dự án trùng tu chùa với tổng kinh phí 15,87 tỉ đồng được khởi công vào tháng 11-2005 và phải mất ba năm mới hoàn thành.

Dù được công nhận là di tích quốc gia hạng đặc biệt, là một trong sáu di tích quan trọng hàng đầu của Hà Tây (cùng với chùa Hương, chùa Thầy, chùa Tây Phương, chùa Đậu, làng cổ Đường Lâm), lại nằm trong vòng cung du lịch chùa Hương - Quan Sơn - làng nghề Hà Tây nhưng đến nay chùa Bối Khê vẫn vắng vẻ khách thập phương, người hành hương, chiêm bái di tích. Một ngôi chùa cổ kính nhất, độc đáo vào bậc nhất VN, ngát hương sen kỳ lạ vẫn chưa được mấy người biết đến.


CHÙA ĐẠI BI (CHÙA HIỆP THUẬN)



Chùa thường gọi là chùa Hiệp Thuận, tên nôm là chùa Bà Tề, tọa lạc ở thôn Hiệp Thuận, xã Hiệp Thuận, huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây. Chùa cách Hà Nội khoảng 25km về phía Tây Bắc. Chùa được dựng vào thời Hậu Lê và đã được trùng tu nhiều lần.Có một số tài liệu cho biết chùa được dựng từ thời Tiền Lê, tên "Bà Tề" ẩn chứa sự cổ kính và chưa giải thích được. Tòa Tam bảo ngôi chùa hiện nay có kiến trúc chữ "Công", nội thất bài trí khá nhiều tượng. 72 pho tượng đất nung sơn son thếp vàng, nhiều tượng có 2 bộ như 2 tượng Cửu Long, 2 tượng Chuẩn-đề, 2 bộ tượng Văn-thù, Phổ Hiền v.v... Đặc biệt, chùa có tôn trí 3 pho tượng Tam Thế bầng gỗ cao 0,93m, ngang gối 0,63m được tạc theo phong cách tượng trong vùng Đông Nam Aá. Chùa có quả đại hồng chung khắc chữ "Bà Tề tự chung" đúc năm Gia Long thứ 12 (1813), khánh Bà Tề đúc năm Minh Mạng thứ 3 (1822), chân tảng đá chạm hình 16 cánh sen vào thời Lê. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử văn hóa quốc gia.








02 Tháng Chín, 2006, 09:30:59 PM
Reply #43
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 339
  • Điểm bài viết: 4
  • Nothing is impossible....Try the best....
CHÙA LONG CHÂU



Chùa thường được gọi là chùa Trầm, tọa lạc ở xã Phụng Châu, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây. Chùa được dựng từ thời Lý ở chân núi Tử Trầm, và được xây dựng lại vào năm 1696 đời Vua Lê Hy Tông và năm 1913 đời Vua Duy Tân. Đặc biệt ở chùa có động Long Tiên với 48 pho tượng Phật bằng đá có niên đại thời Hậu Lê. Bàn thờ Tam Bảo được bài trí tôn nghiêm. Giữa động, chạy dọc vách động là các pho tượng Phật, Bồ-tát, La-hán... Chùa là một danh lam thắng cảnh của Hà Tây. Đông đảo Phật tử, du khách đến chiêm bái; thanh niên, học sinh đến tham quan, cắm trại thường xuyên. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.


CHÙA QUẢNG NGHIÊM (CHÙA TRĂM GIAN)

Chùa thường gọi là chùa Trăm Gian, chùa Tiên Lữ, tọa lạc ở thôn Tiên Lữ, xã Tiên Phương, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây. Chùa được khởi dựng từ thời Lý và đã được trùng tu nhiều lần. Tên chùa Trăm Gian vì quần thể kiến trúc ở đây có đến 104 gian nhà, chia thành ba cụm. Cụm thứ nhất gồm hai quán ở đường vào; cụm thứ hai là gác chuông hai tầng tám mái dựng năm 1693, tầng trên treo quả đại hồng chung đúc năm 1794 có bài minh của Tiến sĩ Trần Bá Lãm. Cụm thứ ba là ngôi chùa chính gồm bái đường, nhà thiêu hương và thượng điện. Điện Phật được bài trí tôn nghiêm. Có hơn 150 pho tượng bằng gỗ và đất nung phủ sơn. Bộ Thập bát La-hán và bộ Thập Điện Minh Vương là những tác phẩm nghệ thuật bằng phù điêu gỗ sơn. Đặc biệt ở gian giữa thượng điện có một bệ hình khối chữ nhật bằng đất nung đỏ, chung quanh trang trí nhiều hình động vật và hoa lá, trên là đài sen, được nhiều tư liệu cho niên đại thời Mạc. Chùa là ngôi cổ tự nổi tiếng vào bậc nhất ở Việt Nam. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

Vì ở xóm Núi thuộc xã Tiên Phương, huyện Hoà Đức, Hà Tây. Chùa được lập từ đời Lý Cao Tông (1185) trên một quả đồi cao khoảng dăm chục mét, có tên là núi Mã, xung quanh có nhiều cây cổ thụ che rợp mặt đồi. Đời Trần có một vì cao tăng tu tại đây, tên là Nguyễn Lữ, hiệu Bình A. Tương truyền tuy có nhiều phép lạ. Sau khi ông mất, dân làng xây tháp để giữ gìn hài cốt và tôn gọi là Đức Thánh Bối.Chùa Quảng Nghiêm là một quần thể kiến trúc 

độc đáo. Theo cách tính cứ 4 góc cột là một gian thì chùa có cả thảy 104 gian, chia thành 3 cụm kiến trúc chính. 

Cụm thứ nhất gồm 4 cột trụ và 2 quán, trước đây là nơi đánh cờ người trong ngày hội, tiếp đó là nhà Giá ngự nhìn ra mặt hồ sen, nơi đặt kiệu thánh để xem trò múa rối nước.

Trèo qua mấy trăm bậc gạch xây là tới cụm thứ hai gồm một toà gác chuông 2 tầng mái, có lan can chạy quây 4 mặt. Các ván bằng đều có chạm hình mây hoa. Tại đây treo một quả chuông cao 1,10 m, đễờng kính 0,6 m, đúc năm 1974. Trên chuông có khắc một bài minh của Pham Huy ích. Qua gác chuông, leo 25 bậc đá xanh hình rồng mây, đến sân trên có kê một sập đá hình chữ nhật.

Lại leo 9 bậc đá, hai bên có lan can chạm hình rồng cuộn khúc thế tới cụm thứ 3 đó là chúa chính, gồm nhà bái đường, toà thiêu hương, và thượng điện. Hai bên là 2 dãy hành lang. Trong cùng là nhà tổ, giữ lại có lầu trống bên trong treo một trống lớn, đường kính 1m và một khánh đồng dài 1,20m, cao 0,60m đúc năm 1749. Tại đây có 153 pho tượng, hầu hết bằng gỗ, một số ít bằng đất nung, đặc biệt quý là tượng Tuyết Sơn, tượng Quan Thế Âm Bồ Tát. Trong chùa còn có nhiều bia, hoành phi, câu đối. Riêng có hai câu đối khảm trai, tương truyền có từ thời nhà Hồ (1400-1406). Về mặt nghệ thuật điêu khắc thì tượng ở đây không vượt được tượng ở chùa Sùng Phúc, nhễng về mặt lịch sử thì lại có pho tượng đáng chú ý. Tượng này đặt ở gian bên trái. Đó là tượng đô đốc Đặng Tiến Đông, một tướng lĩnh Tây Sơn, chỉ huy đạo quân đánh vào phía nam Thăng Long, đánh đòn quyết định sự thất bại thảm hại của quân xâm lược nhà Thanh, giải phóng Thăng Long vào ngày 5 tết Kỷ Dậu (1789) và có văn bia do Phạm Huy ích soạn nói về Đặng Tiến Đông cùng với sắc phong về đời Tây Sơn cho vị đô đốc lừng danh này, nhân dân địa phương quen gọi là tượng Quân Độ. Tượng này được phát hiện vào năm 1972. Ngoài ra còn có tượng Đức Thánh Bối đặt trong khám gỗ gian bên phải. Đây là tượng cốt rút bằng mây đan ngoài bọc vài sơn, tễơng truyền là tượng bỏ hài cốt của ông.

Chùa đã được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử - văn hoá.
 
Ở nước ta có khá nhiều ngôi chùa có qui mô lớn được gọi là chùa trăm Gian. Trong số đó, Quảng Nghiêm Tự (tên thông dụng là chùa Trăm Gian là một trong những ngôi chùa nổi tiếng nhất được xây dựng trên núi Sở thuộc thôn Tiên Lữ, xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây. 

Toàn bộ quần thể chùa được xây dựng dàn trải trên sườn phía Nam của núi Sở nhưng cổng vào được tạo hình như một nghi môn thường thấy trong kiến trúc đình đền lại nằm chếch về phía Ðông - Nam giáp đường đi. Sau cổng vào là con đường gạch chạy giữa những rặng thông theo hình chữ chi với nhiều cấp nền dẫn lên khu vực chính của chùa. Mở đầu cho khu vực này là tòa nhà Giá Ngự, nơi rước kiệu Thánh ra xem các trò vui được tổ chức ở hồ bán nguyệt dưới chân núi, nơi được coi như là minh đường - gợi khúc sông cong tự phúc - cho cả ngôi chùa. Ngược lên cao, sau tòa Giá Ngự, Gác chuông chùa nằm trên trục tâm của tòa Tam bảo là một trong số ít gác chuông cổ hiện tồn tại với những hình chạm rồng ổ xen lẫn mây lửa của nghệ thuật chạm khắc thế kỷ 17. Tòa Gác chuông này có mặt bằng hình vuông cao 2 tầng với 8 mái uốn cong lên bởi những hoa đao khiến cho công trình như một bông sen khổng lồ vô cùng thanh quý. 

Vượt 27 bậc đá từ Gác chuông là lên đến sân trên của chùa, nơi kê chiếc sập đá có đặt một bát hương để du khách hành lễ trước khi lên đến thềm chùa. Bố cục của khu Tam bảo gồm Tiền đường, Thiêu hương, Thượng điện được kết hợp với nhau thành hình chữ Công và được xây bao lại bằng những hành lang dài ở 2 bên đặt bạ tranh Thập bát vị La hán và Hậu điện ở phía sau thành hình chữ Quốc theo dạng thức bố cục "nội công - ngoại quốc". Nhờ được xây dựng trên nền cao, tòa Tiền đường với 7 gian có được dáng vẻ trang nghiêm và uy nghi cần có nơi cửa Phật. Hệ thống Tam bảo bên trong dù bị xây kín nhưng ánh sáng vẫn vào được nhờ những sân thiên tĩnh tạo nên một độ sáng vừa phải cho khu Phật điện mang đầy vẻ linh thiêng nhưng lại giản dị, gần gũi giữa đạo và đời. Ðặc biệt nổi tiếng trong số các tượng Phật trong chùa là pho Tuyết Sơn mô tả chân thực hình ảnh Ðức Phật gầy gò khi tu khổ hạnh trong núi Tuyết Sơn với những xương sườn, đường gân và mạch máu nổi lên khá rõ. Ngoài ra chùa hiện còn lưu giữ một số hiện vật có giá trị như đôi rồng đá thời Trần có thân dài mập nhưng ghép đầu rồng thời Nguyễn làm lan can thành bậc cửa chùa, bộ tranh La hán tranh Thập điện Diêm vương... 

Là một trong những cổ vật nổi tiếng của Hà Tây, chùa Quảng Nghiêm không chỉ là một trung tâm tín ngưỡng và tôn giáo mà còn là một ngôi chùa có giá trị to lớn về mặt nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc. Chính vì vậy chùa luôn thu hút một số lượng lớn Phật tử du khách về chiêm bái.


02 Tháng Chín, 2006, 09:33:52 PM
Reply #44
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 339
  • Điểm bài viết: 4
  • Nothing is impossible....Try the best....
CHÙA SÙNG NGHIÊM (CHÙA MÍA)



Chùa thường gọi là chùa Mía, tọa lạc ở xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây, cách Hà Nội khoảng 45km về phía Tây. Chùa được dựng vào thời Trần. Đến thế kỷ XVII, bà Nguyễn Thị Dong, vợ Chúa Trịnh Tráng (được nhân dân tôn kính gọi là Bà Chúa Mía) đã cho xây dựng lại. Văn bia năm 1634 ở chùa cho biết chùa được trùng tu lớn vào năm 1632. Chùa có gác chuông là ngôi nhà ba gian kiểu chồng diêm 2 tầng 8 mái. Ơở đây có một tấm bia năm 1621, một tấm bia năm 1750, một quả đại hồng chung đúc năm 1745 và một khánh đồng đúc năm 1846. Gần gác chuông và cây đa cổ thụ là tòa bảo tháp Cửu phẩm Liên Hoa cao 13m thờ vọng Xá-lợi đức Phật. Qua khỏi Bát-nhã môn là nội điện. Điện Phật được bài trí trang nghiêm. Chùa có 287 pho tượng thờ, trong đó có 174 tượng đất nung. Nhiều tượng ở chùa là những tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng như: tượng Tuyết Sơn (cao 0,76m), tượng Quan Âm Tống Tử (cao 0,76m), tượng Bát bộ Kim Cang (cao khoảng 2m), tượng Bà Chúa Mía (cao 0,76m)v.v... Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.


CHÙA SÙNG PHÚC (CHÙA TÂY PHƯƠNG)



Chùa thường gọi là chùa Tây Phương, tọa lạc trên núi Tây Phương (xưa gọi là núi Câu Lậu), ở xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây. Chùa đã được trùng tu nhiều lần vào các thế kỷ XVII, XVIII. Năm 1632, chùa xây dựng thượng điện 3 gian và hậu cung cùng hành lang 20 gian. Khoảng những năm 1657-1682 Tây Đô Vương Trịnh Tạc cho xây lại chùa mới. đến năm 1794, chùa được đại tu hoàn toàn, lấy tên là chùa Tây Phương. Năm 1893, nhà sư Thích Thanh Ngọc trụ trì đã tổ chức trùng tu chùa, tạc tượng Quan Âm trăm tay, Thiện Tài, Long Nữ, Bát bộ Kim Cang, Thập bát La-hán... Điện Phật được bài trí tôn nghiêm. Chùa có nhiều pho tượng là những tác phẩm điêu khắc xuất sắc của dân tộc ở các thế kỷ XVII, XVIII, XIX: Tượng Tuyết Sơn, tượng Quan Âm, tượng Bát bộ Kim Cang, tượng 16 vị Tổ sư v.v... Chùa được đại trùng tu vào năm 1991. Tây Phương là ngôi chùa nổi tiếng về kiến trúc và điêu khắc bậc nhất ở Việt Nam. Hàng ngày, chùa đã đón tiếp nhiều Phật tử, du khách trong nước, nước ngoài đến tham quan, chiêm bái. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.


CHÙA THẦY (CHÙA THIÊN PHÚC)




Hằng năm cứ đến ngày 7-3 âm lịnh là người ở thập phương lại tấp nập kéo về dự hội chùa Thầy (Nhớ ngày mồng bảy tháng ba. Trở vào hội Láng trở ra hội Thầy).
Chùa Thầy còn gọi là chùa Thiên Phúc tự nằm ở chân núi Sài thuộc xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây, cách Hà Nội chừng 25Km về phía tây. Chùa được xây dựng vào thời Lý Nhân Tông (1072 - 1127), lưu dấu ấn tu hành của một vị cao tăng rất nổi tiếng thời Lý: thiền sư Từ Đạo Hạnh. Chuyện kể rằng sau khi đắc đạo, thiền sư trở về giảng đạo, dạy học hái thuốc giúp dân, tổ chức những trò chơi như đá cầu, đánh vật, múa rối nước. Do đó dân chúng rất cảm phục nên mới gọi nhà sư bằng một danh xưng vừa trìu mến vừa gần gũi là "thầy". Bởi vậy chùa ngài tu là chùa Thầy, núi ngài hóa cũng là núi Thầy, làng ngài sống là làng Thầy, thậm chí đến cả tổng đó cũng được gọi là tổng Thầy.
Về kiến trúc, lúc đầu chỉ là một thảo am nhỏ mang tên Hương Hải am do thiền sư Từ Đạo Hạnh lập ra để tu lập. Sau mới xây thành qui mô lớn. Trước cửa chùa có hồ nước rộng gọi là Long Trì (ao rồng), giữa hồ có nhà thủy đình là nơi biểu diễn rối nước trong những ngày hội. Hai bên cầu có hai chiếc cầu lợp mái theo kiểu "thượng gia hạ kiều" (trên là nhà dưới là cầu). Bên trái là Nhật Tiêu Kiều thông ra tam phủ trên một đảo nhỏ giữa ao Rồng. Bên phải là Nguyệt Tiêu Kiều bắc qua ao lên núi. Toàn khu chính điện của chùa là một khuôn viên hình chữ nhật rộng khoảng 40m, dài chừng 60m, gồm ba tòa nhà to dài xây song song hình chữ tam, có hai dãy hành lang chạy kèm hai bên các đấu hối. Nhưng kỳ lạ thay cả ba ngôi bảo điện hình chữ tam đồ sộ như thế mà chỉ có 36 lỗ đục, còn gỗ được xếp chồng lên nhau nhưng lại rất vững chắc. Hai bên toà chính điện là gác chuông và gác chính nhô cao lên khỏi hai dãy hành lang. Đi tiếp là chùa Thượng, bàn giữa tượng Di Tà tôn ở trên, phía dưới là bệ đá trăm hoa (bách hoa đài) tạc từ thời Trần, trên để hòm sắc lịch triều tôn phong của thiền sư Từ Đạo Hạnh, phía dưới cùng là tượng thiên sư nhập định trên tòa sen vàng, gian bên trái thờ tượng toàn thân thiền sư bằng gỗ chiên đàn đặt trong khám. Rời chùa chính, du khách qua Nguyệt Tiêu Kiều là cổng "Bất nhị pháp môn" để lên núi. Đến lưng chừng núi ta gặp chùa cao (Hiền Thụy am) với hang thánh hóa là nơi thiền sư Từ Đạo Hạnh giải thi (trục xác). Leo lên tới đỉnh núi ta thấy một khoảng đất bằng phẳng xung quanh có nhiều mô đá châu vào. Đó là "chợ trời". Lại theo đường mòn chùa cao ta đi vòng về phía sau, qua lối rẽ là tới hang Cắc Cớ. Hang rất tối, muốn vào phải níu nhau mà đi. Tương truyền đây là nơi tuẫn tiết của tướng quân họ Lã sau trận chống giặc ngoại xâm thất bại. Từ hang Cắc Cớ lên, men theo sườn núi qua hàng đại già, ta đặt chân tới đền Thượng, nơi thờ thánh Văn Xương, nơi hội họp của Đông Kinh Nghĩa Thục xưa kia. Đi tiếp, ta sẽ xuống đến chùa Bối Am, hay còn gọi là một chùa một mái. Bên cạnh đó là hang Hút Gió, thềm đá Thái Lão, đến kỷ niệm Phan Huy Chú. Như vậy là du khách đã hoàn thành một chuyến viễn du chùa Thầy đầy thú vị rồi.