Please login or register.

Login with username, password and session length

Author Topic: Thực hành Hoá học  (Read 63457 times)

13 Tháng Chín, 2008, 12:26:10 PM
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 2151
  • Điểm bài viết: 290
Box Hoá ra đời đã ba năm, nhiều kết quả đã đạt được trong hướng đào tạo HSG và cũng đang dần dần tiến đến những bước ổn định trong việc hỗ trợ các member ôn thi ĐH. Để tiếp tục mở rộng hướng phát triển cho box trong năm tiếp theo, đồng thời hỗ trợ nâng cao kiến thức - kĩ năng chuyên ngành cho các anh chị em trong BQT nói riêng và các member khác của forum nói chung, mình lập ra topic Thực hành Hoá học này với mục đích chính là để mọi người cùng học tập - trao đổi các kĩ năng tiến hành các thao tác trong phòng Thí nghiệm. Topic có những nội dung chính như sau:
  • Giới thiệu những dụng cụ, hoá chất quen thuộc trong phòng Thí nghiệm (sau này nếu có điều kiện ta sẽ mở rộng hơn).
  • Giới thiệu một số thí nghiệm Hoá học, kèm theo các câu hỏi thảo luận để kiểm tra độ "thẩm thấu" khi làm các thí nghiệm.
  • Trao đổi các kinh nghiệm, kĩ năng khi tiến hành thao tác thí nghiệm. Hướng dẫn cách làm một bài báo cáo thí nghiệm hoàn chỉnh.

Các bài viết sẽ tuỳ từng vấn đề mà được nói kĩ hay chỉ tóm lược để giải quyết được nhiệm vụ cung cấp đủ thông tin nhưng cũng tránh việc nói đi nói lại quá nhiều một vấn đề đã có nhiều trong các giáo trình của các trường ĐH - CĐ trong nước và quốc tế.
Hi vọng mọi người sẽ ủng hộ topic này, đặc biệt có anh Hưng (n2h) và anh Shindo đều đang là học viên Cao học, kĩ năng tiến hành các thí nghiệm phản ứng và kinh nghiệm có nhiều, hi vọng sẽ truyền thụ cho các thế hệ đàn em được học hỏi ;)

Lưu ý: có một số thuật ngữ về các dụng cụ trong phòng thí nghiệm, nếu có thể tìm kiếm được tài liệu thì mình sẽ chèn file dưới dạng link ảnh hoặc link web, mọi người nếu có gì thắc mắc thì nên để ý để tìm các link liên kết.

Mở đầu topic này chúng ta thực hiện yêu cầu đầu tiên khi bước chân vào một phòng thí nghiệm Hoá học là đọc các quy định:

CÁC QUY ĐỊNH KHI LÀM VIỆC TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM HOÁ HỌC

1.1. Nội quy phòng thí nghiệm:
Quote
  • Mọi người làm việc trong phòng thí nghiệm (PTN) đều phải được học tập, kiểm tra về nội quy an toàn lao động, nắm vững các quy trình, quy phạm kĩ thuật và các biện pháp đảm bảo an toàn lao động.
  • Mỗi người chỉ làm việc trật tự, giữ gìn vệ sinh và tuân thủ hướng dẫn của cán bộ phụ trách tại nơi quy định. Không tiếp khách lạ hoặc làm ngoài giờ quy định, nếu muốn làm ngoài giờ thì cần có sự đồng ý của trưởng PTN và phòng Bảo vệ nhà trường.
  • Phải đọc kĩ tài liệu, hiểu rõ mọi chi tiết của thí nghiệm trước lúc làm và lường trước các sự cố có thể xảy ra để chủ động phòng tránh.
  • Tiến hành thí nghiệm thì cần quan sát và ghi chép kĩ các số liệu để làm bản báo cáo thí nghiệm. Sau giờ làm việc phải lau chùi, sắp xếp gọn gàng các thiết bị và dụng cụ thí nghiệm. Lưu ý: lấy hoá chất, dụng cụ thí nghiệm ở đâu thì đặt lại vị trí cũ. Trước khi rời khỏi PTN cần phải kiểm tra lại PTN, khoá các van nước, đóng ngắt cầu dao điện,...
  • Ngoài những quy định chung nêu trên thì mỗi PTN tuỳ theo tính chất chuyên môn cần đề ra những quy định riêng nhằm đảm bảo an toàn tuyệt đối cho người và tài sản trong phòng.
1.2. Quy tắc an toàn:
1.2.1. Tất cả các thí nghiệm có sử dụng chất độc dễ bay hơi, có mùi khó chịu, các khí độc hoặc các axit đặc phải được tiến hành trong tủ hốt hoặc nơi thoáng gió. Cần tìm hiểu về các hoá chất dùng trong PTN để biết các đặc tính như: tính độc, khả năng cháy, nổ,... để tránh xảy ra những sai sót khi tiến hành thí nghiệm, dẫn đến những hậu quả đáng tiếc.
a. Làm việc với các chất độc:
Quote
  • Trong PTN Hoá học có nhiều loại hoá chất thường gặp nhưng lại có độc tính cao như: HCN, NaCN/KCN, Me2SO4, Hg, HgCl2, CO, Cl2, Br2, NO, NO2, H2S, NO2,... hay các loại chất dùng trong mảng Tổng hợp Hữu cơ như: CH3OH, pyriđin C5H5N, THF, benzen, toluen, acrylonitrin, anilin, HCHO, CH2Cl2... Tất cả các chất không biết rõ ràng đều được coi là chất độc. Khi làm việc với các hoá chất này cần chú ý kiểm tra chất lượng dụng cụ chứa đựng và dụng cụ tiến hành thí nghiệm. Đặc biệt tuân thủ chặt chẽ các điều kiện đã nêu trong giáo trình, tài liệu đã được chuẩn bị trước.
  • Không trực tiếp đưa hoá chất lên mũi và ngửi mà phải để cách xa và dùng tay phất nhẹ cho chúng lên mùi.
  • Sau khi làm việc phải rửa mặt, tay và các dụng cụ (nên dùng xà phòng).
  • Cất giữ, bảo quản hoá chất cẩn thận.
b. Làm việc với các chất dễ cháy:
Quote
  • Các chất thuộc nhóm chất dễ cháy, dễ bay hơi bốc lửa là Et2O, Me2CO, ROH, dầu hoả, xăng, CS2, benzen,... Khi làm việc với chúng cần chú ý là chỉ được phép đun nóng hay chưng cất chúng trên nồi cách thuỷ hoặc cách không khí trên bếp điện kín.
  • Không để gần nguồn nhiệt, cầu dao điện,...
  • Khi tiến hành kết tinh từ các dung môi dễ cháy thì cần thực hiện trong dụng cụ riêng, có lắp sinh hàn hồi lưu.
c. Làm việc với các chất dễ nổ:
Quote
  • Khi làm việc với các chất như H2, kiềm (kim loại & dung dịch), NaNH2/KNH2, axit đặc, các chất hữu cơ dễ nổ (đặc biệt là các polynitro)... cũng như khi làm việc dưới áp suất thấp hay áp suất cao cần phải đeo kính bảo vệ (làm bằng thuỷ tinh hữu cơ) để che chở cho mắt và các bộ phận quan trọng trên gương mặt.
1.2.2. Không được cúi đầu về phía các chất lỏng đang đun sôi hoặc chất rắn đang đun nóng chảy để tránh bị hoá chất bắn vào mặt (có nhiều trường hợp không lưu ý vấn đề này). Khi đun nóng các dung dịch trong ống nghiệm phải dùng cặp và luôn chú ý quay miệng ống nghiệm về phía không có người, đặc biệt là khi đun nóng axit đặc hoặc kiềm đặc. Phải biết chỗ để và sử dụng thành thạo các dụng cụ cứu hoả, các bình chữa cháy và hộp thuôc cứu thương để khi sự cố xảy ra có thể xử lí nhanh chóng và hiệu quả.

1.3. Cách sơ cứu chấn thương và ngộ độc trong PTN: Vấn đề này sẽ chỉ được nói chung chung bởi có nhiều trường hợp tai nạn PTN và mỗi trường hợp có 1 cách xử lí khác nhau, chúng ta sẽ tìm hiểu cụ thể hơn thông qua các câu hỏi Thảo luận.
Quote
  • Tủ thuốc trong PTN luôn được đặt ở nơi dễ thấy, dễ lấy và dễ sử dụng. Trong tủ thuốc thường có các loại bông băng, thuốc đỏ, cồn iot, thuốc mỡ, các dung dịch KMnO4 3%, CuSO4, NaHCO3 2%, CH3COOH 1%, dung dịch tanin trong cồn...
  • Khi bị axit đặc (H2SO4, HNO3, HCl, HOAc,...) hoặc brom, phenol bắn hoặc rơi vào da thì phải rửa ngay bằng vòi nước mạnh trong vài phút, sau đó dùng bông tẩm NaHCO3 2% hoặc dung dịch tanin trong cồn đắp lên chỗ bỏng và băng lại.
    Khi bị bỏng do kiềm (kim loại hoặc dung dịch đặc) thì phải rửa bằng nước, sau đó rửa bằng dung dịch HOAc 1% rồi rửa lại bằng nước một lần nữa và bôi thuốc sát trùng, băng lại.
    Khi bị bỏng do vật nóng, thuỷ tinh, mảnh sứ... thì phải gắp các mảnh chất rắn đó ra và dùng bông tẩm KMnO4 3% hoặc dung dịch tanin trong cồn đắp lên vết bỏng, sau đó băng lại bằng thuốc có tẩm thuốc mỡ chứa bỏng.
    ...
  • Khi bị hoá chất bắn vào mắt thì phải rửa bằng nước nhiều lần để sơ cứu và đem đến bệnh viện gấp.
  • Nếu bị nhĩêm độc do hít thở nhiều phí Cl2, Br2, H2S, CO,... thì phải đưa ngay ra chỗ thoáng. Khi bị nhiễm độc kim loại As, Hg,... hoặc độc chất xianua thì phải chuyển ngay đến bệnh viện để cấp cứu.
    ...
1.4. Câu hỏi thảo luận:

Câu 1. Na/K kim loại là những chất hút ẩm rất tốt nhưng tại sao không được dùng chúng để làm khô các dẫn xuất halogen dãy béo (etyl bromua, clorofom,...)? Và để làm khô những hoá chất đó thì phải sử dụng phương pháp nào?

Câu 2. Photpho trắng (WP - white phosphorus) là một trong 3 dạng thù hình chính của photpho với cấu tạo tứ diện (P4) rất kém bền, photpho trắng cháy khi tiếp xúc với không khí hay tiếp xúc với nguồn nhiệt và ánh sáng. Tại sao khi bị bỏng photpho trắng người ta thường dùng bông băng tẩm dung dịch CuSO4 2% để đắp lên vết thương.

Câu 3. Khi pha loãng axit đặc (đặc biệt là axit sunfuric H2SO4) phải rót từ từ axit vào nước chứ không được làm ngược lại. Tại sao?

Câu 4. Tại sao không để natri amit NaNH2 tiếp xúc với nước đá?

Câu 5. Tanin là tên chung của một nhóm poliphenol tồn tại chủ yếu trong thực vật, có khả năng tạo liên kết bền vững với protein và một số hợp chất cao phân tử thiên nhiên. Dưới đây là công thức của một Tanin có tên là corilagin có nhiều ở các loại cây sồi, sú,... được dùng nhiều trong y học để làm thuốc chữa bỏng, tiêu độc:
Giải thích tại sao:
Quote
Khi bị axit đặc (H2SO4, HNO3, HCl, HOAc,...) hoặc brom, phenol bắn hoặc rơi vào da thì phải rửa ngay bằng vòi nước mạnh trong vài phút, sau đó dùng bông tẩm NaHCO3 2% hoặc dung dịch tanin trong cồn đắp lên chỗ bỏng và băng lại.

Lưu ý:
  • Các câu hỏi này là do mình tìm trong các tài liệu thực hành và các kinh nghiệm thực tập nên có một số câu hỏi mình không có đáp án hoặc đáp án còn chưa chuẩn, còn nhiều thiếu sót. Hi vọng những ai quan tâm đến lĩnh vực thực nghiệm Hoá học sẽ ủng hộ topic hoạt động bằng cách viết bài giới thiệu hoặc trả lời các câu hỏi (chỉ cần hướng dẫn sơ qua là được). Chúng ta trao đổi kiến thức trên tinh thần học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau nên mình hi vọng không phải nhận những câu trả lời kiểu như "Câu này dễ, nhường mọi người", ai biết đáp án cứ đưa lên ngay luôn để mọi người còn xem xét, chúng ta sẽ còn thảo luận nhiều mà.
  • Topic này cần một sự sắp xếp khoa học nên các bạn có bị delete bài hoặc merge bài thì cũng xin thông cảm, mình sẽ không edit vào bài (trừ khi sai lỗi chính tả) nhưng sẽ merge các bài có cùng nội dung để hợp nhất các câu trả lời cho hoàn chỉnh hơn. Những bài spam, bình luận hay những bài viết có tính chất đùa cợt sẽ bị delete và tuỳ theo mức độ mình sẽ trừ điểm bài viết.

13 Tháng Chín, 2008, 01:07:33 PM
Reply #1
  • Thành viên OlympiaVN
  • **
  • Posts: 258
  • Điểm bài viết: 29
  • (¯`·.º-:¦:- †..Luv..† -:¦:-º.·´¯)
Có được trả lời không ạ? em cũng chẳng biết nhiều, chỉ hiểu thôi chứ diễn đạt cũng không chuẩn xác, nếu sai mong mọi người chỉ bảo thêm, sửa lại nội dung cũ nha, còn lại thì để người khác trả lời vì những câu hỏi khác em cũng chẳng nhớ rõ ( chữ thầy trả thầy :P :()
Câu 3. Khi pha loãng axit đặc (đặc biệt là axit sunfuric H2SO4) phải rót từ từ axit vào nước chứ không được làm ngược ại. Tại sao?
Câu này hình như học ai cũng biết rồi, nhưng mà nói lại đúng thì cũng đầy người quên, em cũng chẳng biết có đúng không, nếu không đúng thông cảm nhé

Axit sunfuric H2SO4 đặc hút nước mạnh, phản ứng với nước tỏa nhiều nhiệt do có sự solvat hóa mạnh. Khi pha loãng axit sunfuric đặc mà rót nước vào axit gây nguy hiểm, axit đặc có thể bị bắn ra ngoài gây bỏng cho người, vì hút nước mạnh nên tuyệt đối không được rót nước vào axit mà phải làm ngược lại (nếu không muốn bị bỏng :P)
Phương trình solvat hóa:   H2SO4 + H2O  -> H2SO4.H2O  +  19 kcal
Phương trình này có trong các sách nâng cao, tham khảo
 ~X(không biết có đúng không nhỉ? Không đúng thì cho em sửa lại nha, em chỉ biết có thế này thôi ^:)^ :(
 :)>-
« Last Edit: 13 Tháng Chín, 2008, 01:11:02 PM by Yan_sora »

26 Tháng Chín, 2008, 12:25:07 AM
Reply #2
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 2151
  • Điểm bài viết: 290
Tiếp tục với topic này, bị bỏ bê hơi lâu rồi :P Đã qua với phần "Nội quy phòng Thí nghiệm" (tạm để những câu hỏi đó, khi nào mọi người có hứng thú tham gia thì ta sẽ thảo luận tiếp). Bài viết hôm nay sẽ giới thiệu một chút về các dụng cụ thường gặp trong phòng thí nghiệm.

CÁC DỤNG CỤ THÍ NGHIỆM THƯỜNG DÙNG

1. Mở đầu: các phản ứng hóa học được tiến hành trong các dụng cụ chuyên dụng làm bằng kim loại, thủy tinh, sứ,... Các dụng cụ này phải thỏa mãn một số yêu cầu cơ bản sau:
Quote
  • Bền hóa học (không tương tác với các chất đầu cũng như chất sản phẩm trong hệ phản ứng).
  • Bền nhiệt.
  • Bền cơ học.
Mỗi phản ứng có một điều kiện nhiệt độ, xúc tác, áp suất... riêng nên phải căn cứ vào bản chất các quá trình diễn ra trong phản ứng (thông tin có sẵn từ những thực nghiệm trước) để lựa chọn các dụng cụ thích hợp cho các loại phản ứng riêng biệt. Ngoài ra cũng chú ý là với các lượng chất thí nghiệm khác nhau thì ta lựa chọn các dụng cụ có kích thước to - nhỏ khác nhau.

2. Một số dụng cụ quen thuộc:


2.1. Ống nghiệm:
TA: developmental tube hoặc test tube.
Ống nghiệm là loại ống thủy tinh trong suốt, hình trụ, đáy tròn, dùng để chứa hóa chất, thực hiện các phản ứng hóa học.


Tùy theo yêu cầu thử nghiệm có nhiều kiểu ống nghiệm với các hình dạng, kích cỡ,... khác nhau. Ví dụ như ống nghiệm có nhánh, ống nghiệm có vạch chia độ,...

Trong các phản ứng hóa học, để tránh cho tay khỏi những tiếp xúc gần với hóa chất hoặc tránh tiếp xúc trực tiếp với thủy tinh khi đun nóng ống nghiệm, người ta sử dụng một dụng cụ để giữ ống nghiệm trong các phản ứng hóa học hay các quá trình trao đổi hóa chất, bảo đảm an toàn cho người thực hiện thí nghiệm. Dụng cụ đó là cặp ống nghiệm (TA: test tube clamp). Cặp ống nghiệm có thể bằng gỗ, nhựa hoặc kim loại nhưng thường người ta sử dụng cặp gỗ nhiều hơn.

2.2. Bình cầu:
TA: balloon hoặc flask.
Là loại bình thủy tinh chịu nhiệt có hình cầu, dung tích nhiều cỡ,... được sử dụng nhiều trong các thí nghiệm hóa hữu cơ, đặc biệt là trong các phương pháp chưng cất.
Có một số loại bình cầu như sau:
- Bình cổ cao đáy bằng (TA:flat-bottom florence flask).


- Bình cầu đáy tròn (TA: round-bottom flask).


- Bình cầu hai cổ đáy tròn (TA: two-neck round-bottom flask).

- Bình cầu ba cổ đáy tròn (TA: three-neck round-bottom flask).

[Còn tiếp]





26 Tháng Sáu, 2009, 01:24:55 AM
Reply #3
  • Thành viên OlympiaVN
  • **
  • Posts: 28
  • Điểm bài viết: 1
  • Ag LÀM LẠI TỪ ĐẦU.
Cho em hỏi : Khi cho sắt vào dd axit sunfuric đặc nguội thì tạo ra được lớp hóa chất bao quanh sắt khiến cho nó bị thụ động, lớp hóa chất ấy có phải là phức chất không ạ?

Do thầy Cường trong ''truongtructuyen'' nói là tạo ra phức chất. Trong khi đó các sách chuyên Hóa thì lại không đưa ra 1 câu trả lời chính xác?
« Last Edit: 26 Tháng Sáu, 2009, 11:18:15 PM by Yan_sora »

26 Tháng Sáu, 2009, 09:34:05 PM
Reply #4
  • Cựu thành viên BĐH
  • ***
  • Posts: 2151
  • Điểm bài viết: 290
Trường trực tuyến đúng là toàn những đáp án... bất ngờ và... thú vị  :l>

Anh chẳng biết bản chất cái lớp chất hóa học ngoài đó là gì, lí do đơn giản là do anh... chưa thực nghiệm và kháo sát quá trình đó bao giờ. Tuy nhiên nếu nói rằng việc tạo ra phức chất thì nghe hơi điêu, lí do là phức chất tạo ra là gì? Nên nhớ là trong điều kiện môi trường chỉ toàn O2, N2, CO2, H2O, ... thì có phức gì tạo ra được? Và nếu là phức chất thì xin chú ý rằng nó tan khi vào dung dịch :-??

Theo như năm thứ nhất đi học thực hành Hóa học, anh được PGS. TS. Ngô Sỹ Lương (bộ môn Hóa học Vô cơ, ĐH KHTN Hà Nội) cho biết rằng vào năm 2005, một số phòng nghiên cứu khoa học của Mỹ có dự đoán rằng các axit có tính oxi hóa mạnh đó đã thúc đẩy quá trình tạo ra oxit sắt tứ sắt nguyên chất, lớp oxit khi thụ động hóa dày hơn vài chục lần so với sắt thông thường và có cấu trúc khác (không rõ là gì) nên không phản ứng được với axit.

Những thông tin mới nhất mà anh được biết là đến đó :P




26 Tháng Sáu, 2009, 09:41:07 PM
Reply #5
  • ADMIN
  • ******
  • Posts: 6312
  • Điểm bài viết: 413
Hơhơ, ở đây chỉ thêm cho chú Thiên một thông tin, đó là theo cuốn giáo trình Hóa học đại cương Chất lượng cao tập 2 của NXB Giáo dục thì một số kim loại, với sự có mặt của chất oxy hóa có thể hình thành ở bề mặt một màng oxit mịn, bám chắc và liên tục. Sau khi tạo thành lớp oxit này thì khả năng phản ứng giảm đột ngột.
« Last Edit: 26 Tháng Sáu, 2009, 09:44:41 PM by shindo »

17 Tháng Ba, 2010, 02:02:53 PM
Reply #6
  • Đại sứ OlympiaVN
  • ***
  • Posts: 176
  • Điểm bài viết: 12
Khi nhỏ vài giọt H2SO4 đặc vào ống nghiệp rồi cho 1 mảnh Cu vào đun nhẹ, ban đầu thấy tạo 1 chất màu đen, vậy nó là gì ạ ?
Có phải là Cu bị oxi hoá thành CuO không ạ? Nguyên nhân là gì ạ?

17 Tháng Ba, 2010, 07:43:09 PM
Reply #7
  • Thành viên box Hóa
  • OLYMPIAN
  • **
  • Posts: 592
  • Điểm bài viết: 49
  • ---I love Chem :x--
    • http://vn.360plus.yahoo.com/pink_glasses_girl_9x/
Chất màu đen đó là Cu2S . :) Lần trước xem thí nghiệm cũng thấy 1 lần rôi  <:-P

17 Tháng Ba, 2010, 08:44:15 PM
Reply #8
  • Thành viên OlympiaVN
  • **
  • Posts: 223
  • Điểm bài viết: 14
  • Hóa học là vô cực...
Chất màu đen đó là Cu2S . :) Lần trước xem thí nghiệm cũng thấy 1 lần rôi  <:-P

Mình nghĩ Cu2S cũng tan trong H2SO4 đặc chứ nhỉ ?

17 Tháng Ba, 2010, 08:46:21 PM
Reply #9
  • Thành viên box Hóa
  • OLYMPIAN
  • **
  • Posts: 592
  • Điểm bài viết: 49
  • ---I love Chem :x--
    • http://vn.360plus.yahoo.com/pink_glasses_girl_9x/
Nếu Google search thì trên mạng có nhiều nguồn cho là CuS
Nhưng trong sách 1 số kim loại điển hình của thầy Vận thì là Cu2S . :D

17 Tháng Ba, 2010, 08:49:08 PM
Reply #10
  • Thành viên OlympiaVN
  • **
  • Posts: 223
  • Điểm bài viết: 14
  • Hóa học là vô cực...
Nếu Google search thì trên mạng có nhiều nguồn cho là CuS
Nhưng trong sách 1 số kim loại điển hình của thầy Vận thì là Cu2S . :D
Cuốn "Hóa học vô cơ" tập 2 của thầy Vận? Trang bao nhiêu vậy, để mình xem lại ? Còn trong sách Hoàng Nhâm mình nhớ là không có

18 Tháng Ba, 2010, 09:54:33 PM
Reply #11
  • Đại sứ OlympiaVN
  • ***
  • Posts: 176
  • Điểm bài viết: 12
Trang 173 đó anh :).. Cảm ơn chị, em vừa tìm hiểu xong. Nếu vậy thì PT ta chỉ ghi là tạo CuSO4 , và lập luận thì ta ghi đồng thời tạo nên bột Cu2S hả chị

19 Tháng Ba, 2010, 02:27:48 PM
Reply #12
  • Thành viên mới
  • *
  • Posts: 19
  • Điểm bài viết: 0
Viết đến lần thứ 3 rồi mới để ý mình viết sai chính tả.Tại quen rồi khó sửa,các anh thông cảm.
Em muốn hỏi:
Lớp em có bài thực hành
Cho 3 dung dịch NaCl NaBr NaI vào 3 ống nghiệm.Nhỏ thêm vài giọt Benzen vào.Sau đổ lần lượt vào mỗi ống nghiệm vài giọt dung dịch I2 và Br2
Quan sát màu sắc benzen sau phản ứng
Em muốn hỏi:
1/Benzen dùng để làm gì ạ? ~X(
2/Em nhận thấy cho KI rồi benzen rồi dung dịch Br2 thì lớp chất lỏng bên dưới màu vàng nhạt,bên trên màu tím (liệu có phải do I2 bị đẩy ra không ạ)?

16 Tháng Tư, 2010, 09:16:16 PM
Reply #13
  • Thành viên OlympiaVN
  • **
  • Posts: 103
  • Điểm bài viết: 21
  • Analytical Chemistry
    • Hồ Tự Hãn
Vai trò của Benzen chỉ là để tách I2, Br2 (nếu có) ra khỏi dung dịch nước. Phương pháp đó gọi là CHIẾT đó bạn!
Nguyên tắc cơ bản: "Các chất có cấu trúc tương tự nhau thì sẽ hoà tan lẫn nhau tốt".
Benzen là chất ít phân cực (xét từng liên kết), I2, Br2 cũng thế. Vì thế khi có benzen thì I2, Br2 tan trong nước rất kém sẽ chuyển GẦN NHƯ HOÀN TOÀN sang phần benzen (thường có thể tích rất nhỏ), các dung dịch I2, Br2 trong benzen có màu vàng-đỏ hoặc tím (tuỳ nồng độ).
Thân!
« Last Edit: 17 Tháng Tư, 2010, 05:21:41 AM by Oxy »

16 Tháng Tư, 2010, 09:22:04 PM
Reply #14
  • Thành viên OlympiaVN
  • **
  • Posts: 103
  • Điểm bài viết: 21
  • Analytical Chemistry
    • Hồ Tự Hãn
Nếu Google search thì trên mạng có nhiều cho là CuS
Nhưng trong sách 1 số kim loại điển hình của thầy Vận thì là Cu2S . :D
Vậy cơ chế thế nào? Tại sao S lại về S-2 được nhỉ? Tôi nghĩ Cu là chất khử yếu, làm gì có khả năng khử S+6 về S-2 được?
Tôi đọc sách Phương pháp giảng dạy Hoá học của các cụ Nguyễn Ngọc Quang và Nguyễn Cương thì lúc đầu sẽ tạo CuO, điều này hợp lý hơn, vì ban đầu phản ứng còn chậm, nhiệt độ chưa đủ cao (và có lẽ cấu trúc của CuO cũng khá bền):
ptpư của các cụ viết là: Cu + H2SO4 -> CuO + SO2 + H2O
Tôi nghĩ mỗi thầy đưa ra một phản ứng khác nhau, nhưng tôi chắc các bạn vẫn chưa bị thuyết phục chứ?
Tôi thì ủng hộ ý kiến của cụ Quang, cụ Cương.
« Last Edit: 17 Tháng Tư, 2010, 05:22:29 AM by Oxy »