Hoạt động học tập > Động vật - Thực vật

Vai trò của hoocmon với thực vật

<< < (2/5) > >>

Luuly:
3. Hiện tượng ưu thế ngọn và vai trò của hoocmon
3.1 Hiện tượng ưu thế ngọn ở thực vật
Trong mối tương quan giữa các cơ quan trong cơ thể thì có những mối tương quan kích thích, nhưng cũng có những tương quan ức chế lẫn nhau. Ưu thế ngọn là sự tương quan ức chế mà trong đó chồi ngọn hoặc rễ chính sinh trưởng sẽ ức chế sự sinh trưởng của chồi bên hoặc rễ phụ. Nếu loại bỏ chồi ngọn thì chồi bên sẽ thoat khỏi sự ức chế và lại sinh trưởng bình thường.
Nguyên nhân chính gây nên hiện tượng ưu thế ngọn là do hoocmon sinh trưởng quyết định. Hai phytohoocmon điều chỉnh hiện tượng ưu thế ngọn là auxin làm tăng ưu thế ngọn, còn xytokinin làm yếu ưu thế ngọn. Auxin được sản sinh ở đỉnh sinh trưởng ngọn với hàm lượng khá cao và khi vận chuyển xuống dưới đã gây ảnh hưởng ức chế lên chồi bên. Do đó càng xa đỉnh ngọn hàm lượng auxin càng giảm và hiện tượng ưu thế ngọn cũng yếu dần và các cành bên được sinh trưởng. Ngược lại xytokinin được sản sinh trong hệ thống rễ và lại được vận chuyển lên các cơ quan trên mặt đất để giải phóng các chồi bên khỏi sự ức chế của chồi ngọn. Sự cân bằng giữa hai loại hoocmon sinh trưởng auxin/xytokinin quyết định hiện tượng ưu thế ngọn trong cây.

3.2 Ứng dụng ưu thếngọn trong trồng trọt và nghề làm vườn
Đối với nhiều loại cây trồng như cây công nghiệp, cây ăn quả, cây cảnh, cây hoa... thì việc tạo hình, tạo tán cho chúng là cực hìquan trọng, có ý nghĩa quyết định.
Việc tạo hình, tạo tán điều dựa trên nguyên tắc loại bỏ hoặc làm yếu ưi thế ngọn, tạo điều kiện cho sự phân cành.
với hiều loại cây trồng, người ta sử dụng kĩ thuật đốn ( như với chè, dâu, táo.. ) để cảitạo lại chúng,làm tăng sức sống, tăng năng suất thu hoạch. Việc dốn cây, tức loại bỏ chồi chính sẽ tạo điều kiện cho các chồi bên mọc ra. Có hai phương pháp đốn cây là phương pháp đốn đau được tiến hành sát gốc, còn phương pháp đốn phớt được tiến hành ở phần ngọn. Sự đốn đau sẽ cho các cành sát gốc,gần với nguồn xytokinin nên sẽ ở tranghj thái non, khoẻ, lâu thu hoạch nhưng thu hoạch kéo dài. Việc đơn phớt thì sẽ phát sinh các chồi nhanh và già hơn, chóngthu hoạch nhưng chóng tàn. vì vậy nười ta thường tính toán việc xen kẽ giữâhi hình thức đốn để vừa có thu hoạch thường xuyên, vừa đảm bảo cải tạo được quần thể.
Với cây cảnh, cây thế... thì việc tạo tán, tạo hình phải tiến thành bấm ngọn, tỉa cành một cách thường xuyên để tạo được thế cây, dáng cây theo đúng yêu cầu của mình...

3.3 Sử dụng chất ức chế sinh trưởng để ức chế chồi bên, ức chế mầm hoa
Trong nghề trồng thuốc lá, sau khi xuất hiện hoa thì đồng thời ưu thế ngọn cũng bị loại trừ vì chồi hoa không còn sản sinh ra auxin nữa, do đó các chồi bên được giải phóng và mọc rất nhanh. Việc ra hoa và mọc các chồi bên là một khó khăn lớn cho nghành trồng thuốc lá vì phẩm chất thuốc lá bị giảm sút. Vì vậy trong sản xuất, người ta thường mất nhiều công sức cho việc ngất hoa và tỉa chồi nách thường xuyên rất tốn kém. Để làm giảm công lao động trong việc bấm tỉa hoa và chồi nách, người ta sử dụng chất ức chế chồi. Chất được sủ dụng có hiệu quả nhất hiện nay là MH ( malein hydrazit ). Người ta có thể phun MH nồng độ 1 - 2,5% lúc bắt đầu ra hoa ( có 90% cây xuất hiện nụ đầu tiên ) hoặc phun MH nồng độ 0,1 -0,5% cho thuốc lá sau khi đã ngắt chồi hoa. Nồng độ MH sử dụng phụ thuộc vào đặt tính giống và điều kiện thời tiết. Bằng cách đó có thể hoàn toànngăn chặn được sự mọc của chồi bên, làm tăng năng suất và có thể cải thiện được phẩm chất của thuốc lá.
Ở Mỹ có tới 90% diện tích trồng thuốc lá đã sử dụng MH vào mục tiêu này.
Ở Monđan khi phun MH nồng độ 2,5% cho thuốc lá vào gian đoạn bắt đầu ra hoa đã làm đỉnh chỉ sự mọc tiếp của chồi hoa, ức chế chồi bên, thúc đẩy lá chín nhanh, tăng năng suất 2 - 4 tạ/ha, tăng chất lượng thuốc lá, thu hiệu quả kinh tế cao.


Luuly:
4 Sự hình thành rễ của cành chiết, cành giâm và việc nhân giống vô tính cây trồng
4.1 Cở sở của hình thành rễ bất định của cành chiết, cành giâm
Rễ bất định là những rễ được hình thành về sau này của các cơ quan dinh dưỡng như cành, thân lá... Rễ bất định có thể được hình thành ngay trên cây nguyên vẹn ( cây đa, cây si... ), nhưng khi cắt cành khỏi cơ thể mẹ là điều kiện kích thích sự hình thành rễ và người ta vận dụng để nhân bản vô tính.
Rễ bất định của hầu hết thực vật được hình thành sau khi cắt cành khỏi cây mẹ, nhưng cũng có một số loài rễ bất định được hình thành từ trước dưới dạng các mầm rễ ở trong phần vỏ và chúng nằm yên đến khi cắt cành thì ngay lập tức đâm ra khỏi vỏ. Với các đối tượng như vậy thì cành giâm, cành chiết ra rễ một cách dễ dàng. Nhưng đa số trường hợp rễ bất định được hình thành trong quá trình con người có tác động đến nó nhằm mục đích nhân giống.
Nghiên cứu nguồn gốc và quá trình xuất hiện của rễ bất định ở cành chiết, cành giâm có ý nghĩa quan trọng trong việc điều khiển sự hình thành rễ bất định trong việc nhân giống vô tính cây trồng. Có thể chia làm ba giai đoạn của quá trình hình thành rễ bất định của cành chiết, cành giâm.
- giai đoạn đầu là sự tái phân chia của mô phân sinh bên ( tầng phát sinh ) tức là ột số tế bào xảy ra sự phản phân hoá mạnh ở vùng xuất hiện rễ tạo nên một đám tế bào lộn xộn, đó là mầm mống của rễ.
- Giai đoạn tiếp theo là giai đoạn xuất hiện mầm rễ.
- Giai đoạn cuối cùng là sự sinh trưởng và kéo dài của rễ, rễ chui qua vỏ để ra bên ngoài cành để tạo nên rễ bất định.
các giai đoạn này khác nhau về yêu cầu đối với auxin. Giai đoạn đầu đòi hỏi một hàm lượng auxin rất cao để khởi xướng sự phản phân hoá tế bào mạnh mẽ. nồng độ kích thích của ãuin là 10-4 - 10-5 g/cm3. Giai đoạn thứ hai cần hàm lượn auxin thấp hơn cho sự xuất hiện rễ ( 10-7 g/cm3 ), còn sự sinh trưởng của mầm rễ thành rễ thì đòi hỏi lượng auxin rất thấp ( 10-11 - 10-13 g/cm3 ) và thậm chí sự co0s mặt của auxin trong giai đoạn này còn gây hậu quả ức chế sự sinh truởng của rễ.
Nếu như quan hệ giữa auxin và sự hình thành rễ bất định là dương tính thì ngược lại xytokinin và gibberellin lại gây ức chế sự hình thành rễ bất định của cành chiết, cành giâm. ngoài ra điều kiện ngoại cảnh có ảnh hưởng rất quan trọng dến sự hình thành rễ bất định. Điều kiện cần thiết là : độ ẩm bão hoà, ánh sáng tán xạ, nhiệt dộ 20 -30oC...
nghiên cứu cơ sở sinh lý của sự hình thành rễ bất định có ý nghĩa quan trọng trong việc nhân giống vô tính cay trồng.
( Bài viết trích từ cuốn ' sinh lý thực vật ứng dụng ' )

4.2 Sử dụng chất điều tiết sinh trưởng xúc tiến hình thành rễ bất định của cành chiết, cành giâm trong việc nhân giống vô tính
Trong nhiều năm qua, phòng thí nghiệm sinh lý thực vật trường đại học nông nghiệp I đã tập trung nghiên cứu cở sở sinh lý của sự tái sinh rễ ở cành giâm để xây dựng một quy trình nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm cành cho nhiều đối tượng cây trồng : cây ăn quả, cây công nghiệp, cây thuốc, cây cảnh... Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự tái sinh rễ bất định ở cành chiết, cành giâm là một quá trình sinh lý phức tạp liên quan chặt chẽ với điều kiện nội tại và điều kiện ngoại cảnh mà trong đó tác dụng kích thích của auxin là rất quan trọng. Vì hàm lượng auxin nội sinh trong cành chiết, cành giâm không đủ cho sự hình thành rễ nhanh chóng, nên con người phải xử lí auxin ngoại sinh cho cành giâm cành chiết để xúc tiến sự xuất hiện rễ.
Hiện nay, có hai phương pháp chính dể xử lí auxin cho cành chiết, cành giâm.
- Phương pháp xử lí nồng độ dặc hay phương pháp xử lí nhanh. Nồng độ auxin giao động từ 1000 - 10000 ppm. với cành giâm thì nhúng phần gốc vào dung dịch trong 3-5 giây, rồi cắm vào giá thể. với cành chiết thì sau khi khoanh vỏ, chúng ta tẩm bông bằng dung dịch auxin đặc rồi bôi lên chỗ khoanh vỏ, nơi xuất hiện rễ bất định. sau đó bầu bằng đất ẩm. phương pháp này có ưu điểm là hiệu quả cao vì gây nên "cái sốc sinh lý" cần cho giai đoạn đầu của sự xuất hiện rễ. ngoài ra, phương pháp này không đòi hỏi các thiết bị ngâm cành giâm và hoá chất tiêu tốn ít hơn.
- pương pháp nồng độ loãng - xử lí chậm. Nồng độ auxin sử dụng tuè 20 -200 ppm tuỳ thuộc vào loài và mức độ khó ra rễ của cành giâm. Đối với cành giâm , ngâm phần gốc của dung dịch auxin 10 -24 giờ, sau đó cắm vào giá thể. Với cành chiết thì trộn dung dịch vào đát bó bầu dể bó bầu cho cành chiết.
Các chất auxin được sử dụng là : IBA, anpha - NAA và 2,4D(IBA > NAA > 2,4D).
Trong nhiều năm, cấc nhà nghiên cứu đã tiến hành nghiên cứu các vấn đề :
+ Hiệu quả của hai phương pháp xử lí
+ Đặc điểm cành giâm, tuổi cành, vị trí cành giâm, số lá để lại, cây mẹ...
+ Các điều kiện ngoại cảnh : ánh sáng nhiệt độ giá thể...
Kết quả nghiên cứu đã cho phép các nhà nghiên cứu tạo nên được một chế phẩm giâm chiết cành có hiệu quả tốt cho sự ra rễ của cành chiết cành giâm và đã được sử dụng rộng rãi, đưọc đánh giá cao trong sản xuất.
Chế phẩm giâm chiết cành bao gồm hỗn hợp của auxin (BA< anpha - NAA) phối chế với một số chất khác như ãit nicotinic và vitamin.
Quy trình giâm cành cây ăn quả, cây cảnh, cây công nghiệp
1. Chọn cành giâm : cành bánh tẻ, lá không bị bệnh.
2. Cắt các đoạn cành giâm ( 10 -15 cm ) có ít nhất 1 lá. Nếu cành giâm có nhiều lá thì cắt bớt lá.
3. Nhúng phần gốc vào dung dịch ngâm chiết cành với thời gian 3 - 5 giây.
4. Cắm cành giâm vào giá thể - giá thể phải ấm, thoáng, tốt nhất là cát sạch.
5. nhà giâm cành phải che ánh sáng trực xạ, chỉ sử dụng ánh sáng tán xạ.
6. Phun ẩm thường xuyên bằng máy phun sương hoặc bình phun thuốc trừ sâu. Trong thời gian đầu phải đảm bảo thường xuyên lá không bị héo, lá luôn ướt.
7. khi xuất hiện rễ thì giảm phun nước vàg có thể cho vào bầu đất nilông. Giá thể tốt nhất là 1/2 phân chuồng mục và 1/2 đất màu. khi thấy rễ đâm ra sát túi nilông thì có thể trồng ra vườn ươm hoặc trực tiếp ra vườn.
Thời vụ giâm chiết cành tốt nhất là vào mùa xuân sang hè (tháng 3, 4, 5) và thời vụ thu (tháng 9 và 10). Nếu giâm chiết cành vào những tháng nóng nực của mùa hè và những tháng lạnh lẽo của mùa đông thì rất khó thành công.


Luuly:
5. Sự hình thành hoa và vai trò của chất điều hoà sinh trưởng
5.1 Sự ra hoa và các nhân tố ảnh hưởng
Sự ra hoa là một bước ngoặt trong đời sống của thực vật tức là sự chuyển hướng từ giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng sang giai đoạn sinh trưởng sinh sản.
Sự chuyển hướng này thực chất là sự thay đổi đột ngột trong đỉnh sinh trưởng của thân, cành để có thể chuyển từ sự phân hoá mầm lá sang phân hoá mầm hoa.
Đối với sự ra hoa của cây thì giai đoạn khởi xướng, cảm ứng sự ra hoa là quan trọng nhất. Đây là quá trình phức tạp chịu ảnh hưởng của nhân tố nội tại ( quan trọng là phytohoocmon và phytocrom ) và các nhân tố ngoại cảnh ( chủ yếu là ánh sáng và nhiệt độ ). Ảnh hưởng của nhiệt độ đặc biệt là nhiệt độ thấp đến sự ra hoa người ta gọi là suẹ xuân hoá. Còn ảnh hưởng của độ dài ngày đến sự ra hoa người ta gọi là hiện tượng quang chu kì.
Dưới tác dụng của nhiệt độ thích hợp và quang chu kì cảm ứng, trong lá cây xuất hiện các chất đặc hiệu gây nên sự ra hoa gọi là hoocmon ra hoa.
Hoocmon ra hoa này sẽ được vận chuyển dến các mô phân sinh đầu cành để quy định sự hình thành các mầm hoa.
Vậy các hoocmon thực vật liên quan đến sự ra hoa như thế nào ?
- Gibberellin
GA là nhám phytohoocmon quan trọng nhất ảnh hưởng rõ rệt đến sự ra hoa của nhiều loài thực vật. Nhà sinh lý thực vật học người Nga - Chailakhyan đã đề xướng học thuyết hoocmon ra hoa đã tồn tại mấy chục năm nay. Theo quan điểm này thì sự ra hoa của thực vật được điều chỉnh bằng các hoocmon ra hoa. Hoocmon ra hoa bao gồm hai thành phần : Gibberellin và antesin. GA kích thích sự sinh trưởng và phát triển của ngồng hoa (trụ dưới hoa) còn antesin thì cần cho sự phát triển của hoa. Nếu thiếu một trong hai chất đó thì hoa không được hình thành. Xử lý GA có thể điều chỉnh sự ra hoa của các cây ngày dài và các cây cần xử lý lạnh như su hào, bắp cải, cà rốt... việc xử lý GA cho cây ngày dài có thể làm cho chúng ra hoa trong điều kiện ngày ngắn.
- Auxin
Vai trò của auxin với sự hình thành hoa không rõ. Auxin có thể kích thích sự ra hoa của một số cây, nhưng lại wúc chế sự ra hoa của một số loài cây khác. hiệu quả của chúng lên sự ra hoa là không đặc trưng.
- Chất ức chế
nguyên tắc chung là sự kích thích sinh trưởng của chồi ngọn thường kìm hãm sự ra hoa, nhưng nếu ức chế sự sinh trưởng của chồi ngọn thường ức chế sự ra hoa của cây.
Các ratardant như CCC, alar (SADH)... khi sử dụng với nhiều laọi cây trồng đã kích thích sự ra hoa của chúng.
như vậy có thể hình dung rằng sự ra hoa của cây được điều chỉnh bằng một sự cân bằng hoocmon nào đấy trong cây. Một trong những can bằng quan trọng là cân bằng giữa GA/ABA.trong thời kì sinh trưởng dinh dưỡng thì GA chiếm ưu thế và ABA ít được hình thành. tuy nhiên khi chuyển sang giai đoạn ra hoa, ABA hình thành mạnh vàmlúc hình thành hoa thì ABA đưọc tổng hợp mạnh trong hoa và quyết định giai đoạn sinh trưởng sinh sản - sự ra hoa và phát triển của các cấu trúc sinh sản

5.2 Điều chỉnh ra hoa trái vụ của dứa
dứa là cây trồng mà con người đã sự dụng hoá chất để kích thích sự ra hoa tạo quả thêm một vụ, tăng thu hoạch. Đây là một biện pháp kĩ thuật rất tinh tế của các nước và các vùng trồng dứa.
twù năm 1932, oqr puerto Rico người ta phát hiện ra rằng, trong khói có chứa các khí chưa bão hoà hoá trị như etilen và cả axetilen đã kích thích sự ra hoa của dứa. năm 1935, ở hawai người ta đã biết ứng dụng axetilen như là một sản phẩm thương mại để làm dứa ra hoa trái vụ . sau đó người ta phát hiện ra một số auxin cũng có ảnh hưởng tương tự.
Nhiều chất hoá học, trong đó phần lớn là các chất điều hoà sinh trưởng được sử dụng để kích thích dứa ra hoa trái vụ. Đơn giản nhất là người ta sử dụng đất đèn. Chỉ cần cho một hạt nhỏ (1 g) đất đèn vào nõn dứa và khi gặp ẩm, đất đèn sản sinh ra khí axetilen gây hiệu quả. Etilen được sử dụng dưới dạng ethrel. Khi phun lên cây, cháng thấm vào cây và phân giải cho ra etilen gây hiệu quả sinh lý. ethrel là chế phẩm có hiệu quả nhất được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước trồng dứa hiện nay. Liều lượng ethrel xử lý cho dứa dao động từ 1,1 - 4,5 kg/ha. hiệu quả của nó có thể đạt 100% số cây ra hoa quả, chín sớm hơn 2 -3 tuần. Các chất auxin tổng hợp như anpha - NAA; 2,4D cũng được sử dụng ở một số vùng trồng dứa. Ở Hawai nhiều cánh đòng dứa được phun dung dịch muối natri của NAA ở nồng độ 25ppm. Ở Puerto Rico người ta phun 2,4D với nồng độ 5 - 10 ppm.
Việc xử lý bằng các chất điều hoà sinh trưởng cho dứa đã làm dứa ra hoa đồng loạt và thu hoạch đồng loạt, có thể xác định thời gian thu hoạch bằng thời gian sử lý hoá chất. Biện pháp này đã làm tămg sản lượng dứa đáng kể và có thể xem đây là một vụ dứa chính.
Nhiều tài liệu còn cho rằng ethrel kích thích sự ra hoa kết quả của xoài và một số cây cảnh vốn khó ra hoa kết quả.


5.3 Điều khiển sự ra hoa của các cây trồng
Có rất nhiều ứng dụng thành công chất điều hoà sinh trưởng để điều chỉnh sự ra hoa của cây ăn quả, cây rau, cây cảnh...
- Nhãn - vải : Ở hawai người ta phun anpha - NAA cho nhãn, vải để kích thích sự ra hoa rất có hiệu quả.
- Đào quả : Ở Mỹ, xử lí dung dịch SADH (Alar) nồng độ 2000 ppm đã làm ngừng sinh trưởng của chồi ngọn và tăng cường hình thành hoa.
- Táo tây : Với táo người ta sử dụng phổ biến các chất ức chế sinh trưởng. Ở Bắc Mỹ người ta sử dụng SADH nồng độ 500 - 2000 ppm đã tăng số lượng hoa rất nhiều. Ở Cânda sử dụng SADH với 500 - 2000 ppm cũng làm tăng sự ra hoa của táo tù 50 - 85% thuỳ theo giống.
- Lê : Ở Mỹ đã sử dụng phổ biến SADH để kích thích sự ra hoa của lê. Nồng độ SADH là từ 1000 - 3000 ppm phun 2 lần, đã làm tăng số lượng hoa 2 - 3 lần so với không phun.
- Chanh : Ở Ixraen, chanh Eurica được phun CCC nồng độ 1000 ppm và SADH nồng độ 2500 ppm đã làm tăng số lượng hoa và năng suất quả gấp bội.
- Đu đủ : Hợp chất có hiệu quả nhất với sự ra hoa của đu đủ được sử dụng ở nhiều nơi trồng đu đủ, như ở Hawai đã làm tăng số lượng hoa và quả lên gấp bội bằng BOA (Benzothiazole - 2 -oxi axetic axit).
phun BOA cho đu đủ với nồng độ 30 - 50 ppm đã làm tăng sản lượng đu dủ lên 2 - 3 lần.
- Cây xà lách : Để sản suất hạt xà lách người ta phun GA nồng độ 3 - 10 ppm ở thời kì cây 4 - 8 lá để làm tăng sản lượng hạtvà thu hoạch sớm hơn 2 tuần so với không xử lí.
- Hoa trà : Sử dụng CCC cho cây trà thì chỉ cần một năm sau khi giâm cành, là có thẻ ra hoa. cây được xử lí thì ra hoa, còn cây không xử lí thì vẫn duy trì ở trạng thái dinh dưỡng.
- Cây phong lữ (Geranium) : Xử lí CCC nồng độ 5000 ppm vào 30 nhày sau khi gieo làm chiều cao thấp hơn 8 - 10 cm, phân cành tốt và ra hoa nhiều. Phun lên lá dung dịch SADH nồng độ 5000 ppm cũng làm tăng số lượng hoa và ức chế sinh trưởng chiều cao như xử lí CCC.
- Lay ơn : lay ơn là một trong rất ít cây mà chiều cao của cây được kích thích khi sử dụng CCC. Phun CCC nồng độ 8000 ppm 3 lần : lần thứ nhất xử lí ngay sau khi mọc, lần thứ hai cách 4 tuần, lân thứ ba chác 3 tuần sau lần thứ hai, tức là khoảng 25 ngày trước khi ra hoa. Kết quả là hoa tự được kéo dài, số lượng hoa trên một ngồng nhiều hơn.
- Cúc Nhật : Cúc Nhật thường mẫn cảm với quang chu kì và nhiệt độ thấp, nên ở Nhật người ta thường xử lí GA nồng độ 5 - 10 ppm vào đỉnh sinh trưởng để làm cho chóng ra hoa.
- Cẩm chướng : phun CCC ở nồng đôn 0,25% sẽ chống được hiện tượng cẩm chướng mọc vổng, ra nụ quá nhiều phải ngắt bỏ bằng tay tốn nhiều công lao động; chất lượng hoa tăng rõ rệt.


5.4 Điều khiển ra hoa của hoa loa kèn
Hoa loa kèn là một trong những loài hoa rất được ưa chuộng và là loại hoa xuất khẩu chính trong các năm trước đây. Củ loa kèn thường được trồng vào tháng 9, tháng 10 nhưng mãi đến tháng 4 năm sau mới thu hoạch. Thời gian chiếm đất khá dài. Hơn nữa đến tháng 4 nhiệt độ tăng, hoa nở ồ ạt do đó làm giá trị của hoa bị giảm nhiều. chính vì vậy trong nhiều năm qua, bộ môn sinh lý hoá sinh thực vật trường ĐHNN1 đã nghiên cứu thành công việc điều khiển hoa loa kèn ra hoa trái vụ theo ý muốn. Hiện nay trên thị trường Hà Nội đã có hoa loa kèn trong dịp lễ, tết dương lịch, nhất là từ tết âm lịch dến 8/3. Giá trị của bông hoa trái vụ này có thể tăng lên gấp nhiều lần so với hoa chính vụ. Để làm hoa xuất khẩu thì bện pháp xử lí hoa loa kèn trái vụ lại càng có giá trị hơn.
Việc rút ngắn thời gian sinh trưởng của cây loa kèn là một quá trình phức tạp phải có tác động của hàng loạt biện phápđược tính toán rất hợp lí. Trong các tổ hợp biện pháp đó thì GA có ý nghĩa rất quan trọng. Việc ngâm củ loa kèn hoặc phun đẫm băng dung dịch GA nồng độ 10 ppm sau khi đã xử lí các biện pháp khác đã kích thích sự nảy mầm nhanh của củ loa kèn trong đất, rút ngắn thời kì ngủ nghỉ và làm chúng nhanh sing trưởng ra hoa sớm.
Biện pháp này đã mang lại hiệu quả kinh tế cho nhiều gia đình trồng hoa loa kèn.







Luuly:


5.5 Điều khiển số lượng hoa đực, hoa cái theo ý muốn
Trong sự phân hoá giới tính (tính đực, tính cái) vai trò điều chỉnh của các phytohoocmon là rất quan trọng. Trong các cây đơn tính như các cây họ bầu bí (cucurbitaceae) chất diều tiết sinh trưởng sẽ điều hoà tỉ lệ hoa đực và hoa cái. Còn các cây lưỡng tính thì sự phấy triển của bao phấn, hạt phấn và tế bào trứng cũng chịu ảnh hưởng điều chỉnh của các phytohoocmon.
Mối quan hệ của các cơ quan trong quá trình hình thành giới tính đã được xác nhận qua nhiều thực nghiệm với các cây đơn tính. Nếu nuôi cây đơn tính tù cây con mà chỉ để lại lá, loại trừ rễ thì cây sẽ tạo nên 85 - 90% là cây đực. Còn ngưọc lại nếu rễ phát triển và loại bỏ lá thì đa phần là cây cái. Như vậy thì lá có khả năng biểu hiện tính đực, còn rễ cây biểu hiện tính cái. điều đó được giải thích là lá sinh ra giberelin còn rễ sẽ tổng hợp xytokinin. Trong điều kiện vừa có rễ vừa có lá tức là có sự cân bằng về giơíi tính. Nếu người ta tách phôi rồi nuôi cấy trong môi trường nhân tạo và trong môi trường chỉ bổ sung GA thì có 95 - 100% là hoa đực . Còn nếu chỉ có xytokinin thì 95 - 100% là hoa cái ; cùng với xytokinin , etylen cũng biểu thị tính cáivà auxin thể hiện dặc tính trung gian.
Với các cây họ Bầu bí như bí ngô, bí đao, mướp, dưa lê, dưa chuột, dưa hấu ... thì trên cây vừa tồn tại hoa đực và hoa cái. Để điều chỉnh tỉ lệ giữa hoa đực và hoa cái, người ta thường dùng hai chất : GA để tăng tỉ lệ hoa đực, và ethrel (sản sinh etylen) sẽ kích thích ra hoa cái.
Nồng độ GA là từ 5 - 50 ppm, còn nồng độ của ethrel từ 50 - 250 ppm. Giai đoạn xử lí hoá chất để điều chỉnh giới tính là giai đoạn cây con từ 1 -10 lá thật. phun ethrel với liều lượng 240 mg/l vào lúc cây có 1 - 5 lá làm tăng năng suất dưa chuột lên ba lần.
Các dẫn xuất của axit flatic có tác dụng rất đặc hiệu đến quá trình hình thành hoa cái ở dưa chuột. khi phun lên cây dung dịch muối dikali của axit flatic (ftalat kali) ở nồng độ 0,5% đã làm tăng số lượng hoa cái lên 3 - 4 lần.
Phản ứng này của ethrel lên nhiều giống bầu bí cũng tương tự như dưa chuột.
Trong việc sản xuất hạy lai F1 của các cây họ bầu bí, người ta thường dùng GA hoặc ethrel để điều chỉnh giới tính. Người ta trồng xen kẽ từng hàng giữa các cây mang hoa đực và các cây mang hoa cái (các cây xư lí GA và các cây xử lí ethrel). Hạt giống thu được do sự thụ phấn thụ tinh của các cây đực, cây cái khác nhau là hạt lai F1.

Luuly:
5.6 Khắc phục sự ra hoa quả cách năm
Trong nghề trồng cây ăn quả, thường gặp hiện tượng ra quả cách năm, tức là xen kẽ năm được mùa và năm thất thu. Nguyên nhân chính là ở những năm thuận lợi, hoa ra quá nhiều làm kiệt cây dẫn đến sự giảm hoa hoặc không ra hoa năm sau. Đã có nhiều biện pháp kĩ thuật nông học được đề xuất để ngăn ngừa hiện tượng này, ví dụ như loại bớt hoa hoặc quả non bằng tay khi hoa quá dư thừa. Tuy nhiên mất rất nhiều công sức và khó thực hiện ở sản xuất lớn. Dùng các chất điều tiết sinh trưởng phù hợp có thể điều hoà quá trình này, như phun muối của axit anpha - naphtyl axetic hoặc anpha - naphtyl axetamit ở nồng độ 0,001 - 0,005% vào lúc hoa nở rộ hoặc sau đấy 1 - 2 tuần để làm rụng bớt hoa. Cơ chế tác dụng của các chất này là tăng cường sự tổng hợp etylen, chất đóng vai trò quan trọng trong sự rụng của quả. Người ta có thể dùng ethrel ở nồng độ 0,2 - 2 g/l phun lúc ra hoa hay 1 - 2 tuần sau khi rụng cánh hoa sẽ làm rụng bớt hoa thừa, quả sẽ to hơn. bằng biện pháp này táo ở năm sau có thể cho 37 kg quả/ cây, trong khi đó cây không xử lí chỉ cho 2 kg. ở Ôxtrâylia, khi phun cho cam Valenxia dung dịch giberelin nồng độ 25 mg/l vào lúc hoa nở rộ chỉ làm giảm ít số lượng quả năm đónhưng tăng mạnh sản lượng năm sau vốn là năm rất ít được thu hoạch. Sự chênh lệch năng suất giữa hai năm giảm từ 10 xuống 2 lần. Tổng sản lượng của hai năm vẫn tăng lên 10% so với không xử lí.
Để thúc đẩy cây sớm cho quả, đặc biệt ở cây thân gỗ, người ta thường phun các chất kìm hãm sự sinh trưởng như alar hoặc CCC. Các chất này làm cây sớm chấm dứt thời kì "non trẻ", bước vào giai đoạn ra hoa. Ở các vườn táo, ngay từ năm đầu đã phun dung dịch alar với nồng độ 0,15 - 0,25% thì năm sau sẽ cho hoa rất rộ.
Nếu phun dung dịch alar hoặc CCC sau khi đã tắt hoa với nồng độ 0,2 - 0,5% thì sẽ kìm hãm sự vươn dài của chồi đọt và kích thích sự tiếp tục phân hoá mầm hoa, năm tới cây tiếp tục ra hoa mạnh hơn.

Navigation

[0] Message Index

[#] Next page

[*] Previous page

Go to full version